Súng máy Vickers
Súng máy Vickers hay súng Vickers là một loại súng máy làm mát bằng nước sử dụng đạn .303 British (7,7 mm) do công ty Vickers Limited sản xuất, ban đầu dành cho Lục quân Anh. Khẩu súng này được vận hành bởi một kíp chiến đấu ba người, nhưng thường cần nhiều người hơn để di chuyển và vận hành: một người bắn, một người nạp đạn, và những người khác hỗ trợ vận chuyển vũ khí, đạn dược cùng phụ tùng thay thế.[4] Nó được biên chế từ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến những năm 1960, với các phiên bản làm mát bằng không khí được trang bị trên nhiều máy bay chiến đấu của phe Đồng minh trong Thế chiến I.
| Súng máy Vickers | |
|---|---|
Một súng máy Vickers được đặt trên giá ba chân. | |
| Loại | Súng máy hạng nặng |
| Nơi chế tạo | Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1912–1968 |
| Sử dụng bởi | Xem § Các quốc gia sử dụng |
| Trận | Xem § Các cuộc xung đột |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1912 |
| Nhà sản xuất | Vickers |
| Giá thành | |
| Thông số | |
| Chiều dài | 3 ft 8 in (1.120 mm) |
| Độ dài nòng | 28 in (710 mm) |
| Kíp chiến đấu | 3 |
| Đạn | .303 British Với các cỡ đạn khác, xem § Dùng tại các nước khác |
| Cơ cấu hoạt động | Lực lùi có hỗ trợ bằng khí |
| Tốc độ bắn | 450–500 viên/phút |
| Sơ tốc đầu nòng |
|
| Tầm bắn hiệu quả | 2.187 yd (2.000 m) |
| Tầm bắn xa nhất | 4.500 yd (4.115 m) khi bắn gián tiếp (.303 Mk. VIIIz ball) |
| Chế độ nạp | Dây đạn vải 250 viên |
Loại vũ khí này nổi tiếng về sự bền bỉ và độ tin cậy tuyệt vời. Trong cuốn Weapons & War Machines, Ian V. Hogg đã mô tả một trận đánh diễn ra vào tháng 8 năm 1916, trong đó Đại đội 100 của Quân đoàn Súng máy Anh đã sử dụng mười khẩu súng Vickers của họ để duy trì hỏa lực liên tục trong suốt 12 giờ. Với 100 nòng súng thay thế, họ đã bắn tổng cộng một triệu viên đạn mà không gặp sự cố nào. "Chính độ tin cậy tuyệt đối này đã khiến khẩu Vickers được mọi binh sĩ Anh từng sử dụng nó yêu mến. Nó không bao giờ bị hỏng; nó cứ tiếp tục khai hỏa và sẵn sàng cho những lần tiếp theo."[5]
Lịch sử
sửa
Súng máy Vickers được phát triển dựa trên thiết kế thành công của súng máy Maxim cuối thế kỷ 19. Sau khi mua lại hoàn toàn công ty Maxim vào năm 1896, Vickers đã tiếp nhận thiết kế này và cải tiến nó bằng cách đảo ngược cơ chế hoạt động, giảm trọng lượng bằng cách làm nhẹ và đơn giản hóa các bộ phận, đồng thời sử dụng các hợp kim cường độ cao cho một số thành phần nhất định. Một bộ phận tăng cường ở đầu nòng cũng được thêm vào để tận dụng khí thuốc hỗ trợ lực lùi.
Quân đội Anh đã chính thức chấp nhận súng Vickers làm súng máy tiêu chuẩn với tên gọ Gun, Machine, Mark I, Vickers, .303-inch vào ngày 26 tháng 11 năm 1912.[6] Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt đã xảy ra khi Thế chiến I bùng nổ; Lực lượng Viễn chinh Anh vẫn phải trang bị súng Maxim khi được cử sang Pháp vào năm 1914.[7] Công ty Vickers từng bị đe dọa truy tố vì tội trục lợi chiến tranh do mức giá cắt cổ cho mỗi khẩu súng.[8] Kết quả là sau đó mức giá đã được giảm xuống đáng kể. Khi chiến tranh tiến triển và sản lượng tăng lên, nó trở thành súng máy chính của Quân đội Anh và được sử dụng trên tất cả các mặt trận trong suốt cuộc xung đột.
| 1914 (Tháng 8–12) | 1915 | 1916 | 1917 | 1918 | Total |
|---|---|---|---|---|---|
| 266 | 2,405 | 7,429 | 21,782 | 39,473 | 71,355 |
Khi súng máy Lewis được áp dụng làm súng máy hạng nhẹ và cấp cho các đơn vị bộ binh, súng máy Vickers được định nghĩa lại là súng máy hạng nặng, rút khỏi các đơn vị bộ binh và tập trung vào tay Quân đoàn Súng máy (MGC) mới thành lập. Khi các loại súng máy cỡ nòng 0,5 in (12,7 mm) nặng hơn xuất hiện, những khẩu súng máy sử dụng đạn súng trường gắn trên giá ba chân như Vickers tiếp tục được phân loại lại thành "súng máy hạng trung". Sau Thế chiến I, Quân đoàn Súng máy bị giải thể và súng Vickers được trả lại cho các đơn vị bộ binh.
Trước Thế chiến II, đã có kế hoạch thay thế súng máy Vickers như một phần của sự thay đổi quy mô lớn từ đạn có vành sang đạn không vành. Một trong những ứng cử viên là súng máy Besa 7,92mm (thiết kế ZB-53 của Séc do Anh chế tạo), loại súng sau này đã trở thành súng máy tiêu chuẩn gắn trên xe tăng của Anh. Tuy nhiên, súng Vickers vẫn tiếp tục phục vụ trong Quân đội Anh cho đến ngày 30 tháng 3 năm 1968. Lần cuối cùng nó được sử dụng trong tác chiến là tại Radfan trong cuộc Khủng hoảng Aden.[8] Loại súng kế nhiệm nó trong quân đội Anh là biến thể L7 của súng máy đa chức năng FN MAG.
Sử dụng trên máy bay
sửa
Vào năm 1913, một khẩu súng máy Vickers đã được gắn trên chiếc máy bay hai tầng cánh thử nghiệm Vickers E.F.B.1, đây có lẽ là chiếc máy bay chiến đấu chuyên dụng đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, vào thời điểm phiên bản sản xuất là Vickers F.B.5 đi vào hoạt động vào năm sau, vũ khí chính của nó đã được thay thế bằng súng máy Lewis.[10]
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, súng máy Vickers trở thành vũ khí tiêu chuẩn trên các máy bay quân sự của Anh và Pháp, đặc biệt là sau năm 1916. Ban đầu nó được lắp theo cấu hình súng đơn (Nieuport 17, SPAD VII, Sopwith Triplane), sau đó tăng lên tiêu chuẩn súng đôi trên các máy bay tiêm kích cuối cuộc chiến (Nieuport 28, SPAD XIII, Sopwith Camel). Có một số ngoại lệ như chiếc S.E.5, loại có một khẩu Vickers đồng bộ và một khẩu Lewis gắn phía trên cánh trên. Mặc dù nặng hơn súng máy Lewis, nhưng chu kỳ bắn khóa nòng đóng của Vickers khiến nó dễ dàng đồng bộ hóa để bắn xuyên qua cánh quạt máy bay hơn nhiều. Hệ thống nạp đạn bằng dây băng được bọc kín hoàn toàn đến tận cửa nạp để tránh ảnh hưởng của gió. Dây băng đạn liên kết thép có thể tháo rời đã được William de Courcy Prideaux hoàn thiện tại Anh vào giữa cuộc chiến và trở thành tiêu chuẩn cho súng máy hàng không sau đó. Từ năm 1917 đến năm 1919, nhà máy Manufacture d'armes de Châtellerault của Pháp đã sản xuất súng máy Vickers .303 theo giấy phép (240 khẩu đã được bàn giao trước khi có Hiệp định Đình chiến), nhưng hầu hết các súng máy Vickers trên máy bay của Pháp đều do Anh chế tạo.[11]
Đến năm 1917, các đơn vị nhận thấy đạn cỡ súng trường tiêu chuẩn không đạt hiệu quả cao khi bắn hạ khinh khí cầu quan sát so với các cỡ nòng lớn hơn mang đạn cháy hoặc đạn vạch đường. Súng máy Vickers đã được cải biên để sử dụng loại đạn 11mm Vickers, được gọi là súng máy hàng không Vickers và đôi khi là "Balloon Buster" (Kẻ diệt khinh khí cầu). Nó được phe Đồng minh chấp nhận làm vũ khí chống khinh khí cầu tiêu chuẩn, được cả Anh và Pháp sử dụng cho đến khi kết thúc chiến tranh.[12][13]
Những chiếc máy bay nổi tiếng như Sopwith Camel vàSPAD XIII đã sử dụng súng máy Vickers đôi đồng bộ với cánh quạt, giống như hầu hết các máy bay tiêm kích của Anh và Pháp từ năm 1918 đến giữa những năm 1930. Khi ở trên không, hệ thống làm mát bằng nước nặng nề trở nên dư thừa do nhiệt độ thấp ở độ cao lớn và luồng không khí liên tục thổi qua thân súng; tuy nhiên, vì vũ khí dựa vào lực giật của nòng súng (được tăng cường bởi chụp đầu nòng), nên vỏ bọc nòng giữ nước (rỗng) vẫn được giữ lại. Nhiều dãy rãnh thông gió đã được cắt trên vỏ bọc nòng để hỗ trợ làm mát bằng không khí, một giải pháp tốt hơn so với những gì người Đức đã thử nghiệm ban đầu trên súng lMG 08 vào năm 1915.

Vào năm 1918, vỏ bọc nòng nguyên bản có rãnh đã được thay thế bằng vỏ bọc mỏng hơn trên phiên bản Mk. II,[14] và vào năm 1927, một bộ phận loa che lửa đầu nòng đã được thêm vào trên phiên bản Mk. II*.[15]
Khi trang bị súng máy trên các máy bay tiêm kích của Hoa Kỳ và Anh chuyển từ thân máy bay ra cánh trong những năm trước Thế chiến II, súng Vickers thường bị thay thế bởi loại súng Browning M1919 có tốc độ bắn nhanh hơn và độ tin cậy cao hơn[16], sử dụng dây băng đạn liên kết bằng kim loại. Gloster Gladiator là máy bay tiêm kích cuối cùng của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) được trang bị súng máy Vickers, về sau chúng được thay thế bằng súng Browning.[17] Chiếc Fairey Swordfish vẫn tiếp tục được trang bị loại vũ khí này cho đến khi việc sản xuất kết thúc vào tháng 8 năm 1944.[18]
Một số máy bay ném bom và máy bay tấn công của Anh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai đã lắp đặt súng máy Vickers K (còn gọi là VGO), đây là một thiết kế hoàn toàn khác biệt và có ngoại hình giống với súng máy Lewis hơn.
Súng máy Vickers, được định danh là các mẫu E (dành cho phi công) và F (dành cho quan sát viên, nạp đạn từ hộp tiếp đạn hình đĩa) cũng đã được sử dụng tại Ba Lan, nơi 777 khẩu trong số đó đã được chuyển đổi sang sử dụng cỡ đạn 7,92×57mm Mauser trong giai đoạn 1933–1937.[19]
Sử dụng trên xe thiết giáp
sửaCác phiên bản Vickers Mark VI, Mark VI* và Mark VII làm mát bằng nước là các biến thể của Mark I dành cho xe tăng. Chúng được giới thiệu vào năm 1936 và bị tuyên bố lỗi thời vào năm 1944 (mặc dù chúng và các phương tiện lắp đặt chúng vẫn còn được dự bị cho đến những năm 1960). Các khẩu súng này có thể được lắp đặt với bộ phận nạp đạn bên trái hoặc bên phải. Các mẫu dành cho xe tăng xe tăng Mark VI và VI* là sản phẩm nâng cấp từ biến thể Mark I cũ, trong khi mẫu dành cho xe tăng Mark VII là sản phẩm sản xuất mới hoàn toàn.
Các biến thể
sửa
Phiên bản cỡ nòng lớn hơn (nửa inch) của súng Vickers được sử dụng trên các xe chiến đấu bọc thép và tàu hải quân với tên gọi định danh chính thức là Gun, Machine, Vickers, .5-inch, Mk. II. Nó được sử dụng trên xe tăng, với phiên bản Mark I trước đó là mẫu phát triển. Loại này bắt đầu phục vụ từ năm 1933 và lỗi thời vào năm 1944. Với khả năng bắn phát một hoặc tự động, nó có tay cầm cò súng kiểu súng lục thay vì tay cầm kiểu cái xẻng của phiên bản 0,303 inch (7,7 mm).
Phiên bản Mk. III được sử dụng làm súng phòng không trên các tàu chiến của Anh.[20] Biến thể này thường gồm bốn khẩu súng được gắn trên một bệ có khả năng quay 360° và nâng hạ từ +80° đến −10°. Các dây băng đạn được cuộn thành hình xoắn ốc và đặt trong các phễu bên cạnh mỗi khẩu súng. Đầu đạn trơn hạng nặng nặng 1,3 oz (37 g) và có hiệu quả trong tầm bắn 1.500 yd (1.400 m) range. Tốc độ bắn tối đa của Mark III là khoảng 700 phát/phút từ dây băng 200 viên chứa trong thùng đạn hình trống. Chúng được lắp đặt từ thập niên 1920 trở đi, nhưng về mặt thực tế, chúng tỏ ra ít hữu dụng. Trong Thế chiến II, phiên bản hải quân 0,5 inch (12,7 mm) cũng được gắn trên các tháp pháo vận hành bằng điện trên các tàu thủy nhỏ hơn, chẳng hạn như tàu pháo và tàu phóng lôi.
Các phiên bản Mark IV và V là những cải tiến của Mark II. Được thiết kế cho các xe tăng hạng nhẹ của Anh, một số đã được sử dụng trong chiến tranh trên các bệ gắn trên xe tải của Lực lượng Sa mạc Tầm xa trong Chiến dịch Bắc Phi.[20]
Sử dụng tại các nước khác
sửa
Súng máy Vickers đã được bán rộng rãi trên thị trường thương mại và phục vụ trong quân đội nhiều quốc gia với các loại đạn riêng của họ. Nó đã được điều chỉnh cho phù hợp với từng quốc gia và đóng vai trò là nền tảng cho nhiều loại vũ khí khác. Ví dụ:
- 6.5×50mmSR Arisaka[21]
- 6.5×52mm Carcano[22]
- 6.5×53.5mmR (.256 Mannlicher)[23]
- 7×57mm Mauser[24]
- 7.5×55mm Swiss[21]
- 7.62×51mm NATO[25]
- 7.62×54mmR[26]
- 7.62×63mm (.30-06 Springfield)[27]
- 7.65×53mm Argentine — Với số lượng rất ít tại Argentina[28] và Bỉ.[29]
- 7.7×58mm Arisaka — Được cấp phép sản xuất dưới tên súng máy Type 89.[30]
- 8×50mmR Lebel — Pháp đã đặt hàng 2.000 khẩu vào năm 1914,[31] nhưng chỉ có 52 khẩu được bàn giao.[11]
Phục vụ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai
sửa
Liên bang Nam Phi đã giữ lại một lượng lớn súng máy Vickers dư thừa sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhiều khẩu trong số này đã được viện trợ cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc Angola (FNLA) và Liên minh Toàn quốc vì Độc lập Toàn vẹn của Angola (UNITA) trong cuộc Nội chiến Angola.[25] Các tay súng Angola thường được các cố vấn Nam Phi huấn luyện cách sử dụng chúng.[25] Một số lượng nhỏ được chuyển đổi sang cỡ đạn 7,62 mm NATO vẫn tiếp tục phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Nam Phi cho đến giữa những năm 1980, khi chúng đều được đưa vào kho dự bị.[25] Sáu khẩu đã được rút ra khỏi kho và sử dụng bởi một nhóm liên lạc Nam Phi hoạt động cùng UNITA trong Trận Cuito Cuanavale, sau đó loại vũ khí này cuối cùng đã bị cho nghỉ hưu.[33]
Vào giữa những năm 1960, súng máy Vickers vẫn còn phục vụ ở các quốc gia như Ấn Độ,,[34] Israel[35] và Ai Cập.[36] Nó cũng đã tham chiến cùng Quân đội Ceylon trong cuộc nổi dậy JVP năm 1971.
Colt–Vickers M1915
sửaĐại úy John S. Butler, Văn phòng Cục trưởng Cục Vũ khí[26]
Vào đầu những năm 1900, quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng một bộ sưu tập hỗn hợp các loại súng máy tự động bao gồm M1895 Colt-Browning, 287 khẩu M1904 Maxim, 670 khẩu M1909 Benét–Mercié và 353 khẩu súng máy Lewis. Năm 1913, Hoa Kỳ bắt đầu tìm kiếm một loại vũ khí tự động ưu việt hơn. Một trong những loại vũ khí được xem xét là súng máy Vickers của Anh.
Các cuộc thử nghiệm thực địa đối với súng máy Vickers được tiến hành vào năm 1914, và khẩu súng này đã được hội đồng nhất trí thông qua cho lục quân dưới định danh "Vickers Machine Gun Model of 1915, Caliber .30, Water-Cooled". Một trăm hai mươi lăm khẩu đã được đặt hàng từ Công ty Sản xuất Colt vào năm 1915, với 4.000 khẩu bổ sung được đặt hàng vào năm sau, tất cả đều sử dụng cỡ đạn .30-06. Do sự phức tạp trong thiết kế, các sửa đổi thiết kế và việc tập trung vào sản xuất các vũ khí đã đặt hàng trước đó, khi Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh Thế giới thứ nhất vào tháng 4 năm 1917, Colt vẫn chưa sản xuất được một khẩu M1915 nào.[26][37]
Việc sản xuất bắt đầu vào cuối năm 1917 với các lô hàng được gửi đến Mặt trận phía Tây vào giữa năm 1918. Mười hai sư đoàn đầu tiên đến Pháp được trang bị súng máy Hotchkiss M1914 của Pháp, và mười sư đoàn tiếp theo được trang bị M1915. Mười hai sư đoàn kế tiếp dự kiến được trang bị súng máy Browning M1917, nhưng lại bị thiếu hụt phụ tùng. Đến tháng 8 năm 1918, mười ba sư đoàn Hoa Kỳ đã được trang bị súng máy Colt–Vickers, và nhiều máy bay cũng được trang bị loại vũ khí này (2.888 khẩu đã được chuyển đổi). 7.653 khẩu súng đã được cấp phát trong chiến tranh trên tổng số 12.125 khẩu được sản xuất. Những tổn thất do thiệt hại trong chiến tranh đã làm giảm số lượng M1915 trong kho của Lục quân Hoa Kỳ từ hơn 9.200 xuống còn khoảng tổng cộng 8.000 khẩu.[26][37]

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, súng máy Colt–Vickers được giữ trong kho dự bị cho đến Chiến tranh Thế giới thứ hai. Vài trăm khẩu đã được gửi đến Đông Ấn Hà Lan và Philippines, và cuối cùng đều bị mất trong chiến đấu.[38] Vào năm 1940 và 1941, tổng cộng 7.071 khẩu M1915 đã được Vương quốc Anh mua lại[39] để tái trang bị cho lực lượng của họ sau cuộc di tản Dunkirk, điều này đã làm cạn kiệt loại vũ khí này khỏi kho của Hoa Kỳ trước khi họ tham chiến. Vì mẫu Colt–Vickers M1915 không sử dụng cỡ đạn .303 tiêu chuẩn của Anh, nó đã được sơn một dải màu đỏ để phân biệt và bị giới hạn sử dụng cho Lực lượng Phòng vệ Quốc nội.[26][37]
Thông số
sửa
Trọng lượng của bản thân khẩu súng thay đổi tùy theo các phụ kiện đi kèm, nhưng nhìn chung là từ 25 đến 30 pound (11 đến 14 kg) với giá ba chân nặng 40 đến 50 pound (18 đến 23 kg). Các hộp đạn cho dây đai đạn 250 viên nặng 22 pound (10,0 kg) mỗi hộp. Ngoài ra, nó cần khoảng 7,5 pint Anh (4,3 L) nước trong hệ thống làm mát bay hơi để ngăn tình trạng quá nhiệt. Nhiệt độ của nòng súng làm sôi nước trong lớp vỏ (áo nước) bao quanh nó. Luồng hơi nước sinh ra được dẫn bằng một ống linh hoạt đến bình ngưng—điều này có lợi ích kép là vừa tránh để lộ vị trí của súng, vừa cho phép tái sử dụng nước, điều vốn rất quan trọng trong môi trường khô hạn.
Trong biên chế quân đội Anh, súng Vickers bắn loại .303 inch tiêu chuẩn được sử dụng trong súng trường Lee–Enfield, loại đạn này thường phải nạp tay vào các dây đai đạn bằng vải. Ngoài ra còn có phiên bản cỡ nòng 0,5 inch (12,7 mm) được sử dụng làm vũ khí phòng không và nhiều cỡ nòng khác được sản xuất cho các khách hàng nước ngoài.
Khẩu súng dà 3 foot 8 inch (112 cm) và tốc độ bắn lý thuyết là từ 450 đến 600 phát mỗi phút. Trong thực tế, dự kiến sẽ có 10.000 phát súng được bắn mỗi giờ, và nòng súng sẽ được thay sau mỗi giờ—một công việc tốn hai phút cho một đội ngũ đã được huấn luyện. Súng Vickers có thể duy trì hỏa lực trong thời gian dài vượt quá mức khuyến nghị 10.000 phát mỗi giờ nhờ vào nòng súng làm mát bằng nước và việc thay nòng súng hàng giờ. Một báo cáo ghi nhận rằng một khẩu Vickers đã bắn gần 5 triệu phát súng trong một tuần như một cuộc thử nghiệm vào năm 1963 tại Trại lính Strensall và vẫn có thể hoạt động được.[40] Vận tốc đầu nòng là 2.440 ft/s (744 m/s) ±40 ft/s (12 m/s) với đạn Mark VII(z) và 2.525 ft/s (770 m/s) với đạn Mark VIIIz. Loại đạn Mark VIIIz, có đầu đạn 'khí động học' spitzer đuôi thon, có thể được sử dụng chống lại các mục tiêu ở khoảng cách xấp xỉ 4.500 yd (4.115 m). Vỏ đầu đạn thường được làm bằng hợp kim đồng-niken (cupro-nickel) và kim loại mạ vàng. Đạn cho súng Vickers sử dụng các vòng đệm mã hóa bằng màu sắc. Đạn vạch đường (tracer) được đánh dấu bằng vòng màu đỏ; đạn xuyên giáp (armour-piercing) có vòng màu xanh lá cây, và đạn gây cháy (incendiary) có vòng màu xanh dương. Đạn nổ ban đầu được đánh dấu bằng vòng màu cam trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng đã được đổi thành màu đen.
Cơ chế vận hành
sửaVickers là loại súng máy tự động hoàn toàn tiếp đạn bằng dây đai, bắn khi khóa nòng đóng. Khi sẵn sàng khai hỏa, một viên đạn đã nằm trong buồng đạn, cụm khối khóa nòng và các bộ phận chuyển động nằm ở phía trước. Súng có cơ chế vận hành bằng lực giật, cơ cấu chuyển động nổi với khóa khớp khuỷu tương tự như súng lục Luger P08. Tuy nhiên, không giống như Luger, cơ chế này hoàn toàn nằm bên trong máy súng hoặc thân súng Vickers. Khi vận hành, cơ cấu chuyển động nổi—bao gồm nòng súng, cụm khối khóa nòng và cơ chế khớp khuỷu chuyển động tịnh tiến như một khối thống nhất bên trong thân súng. Cơ chế này được giữ với nhau bởi các tấm đẩy ngược, kết nối phần đuôi nòng súng với phía sau của cơ chế khớp khuỷu. Khóa nòng được đóng chặt khi khớp khuỷu ở trạng thái thẳng. Cần kéo nòng tay quay là một phần của cơ cấu chuyển động nổi. Nó tác động thông qua trục xoay phía sau của khóa khớp khuỷu. Việc kéo cần nòng khiến khớp khuỷu nâng lên. Hành động này mở khóa nòng và sau đó kéo cụm khối khóa nòng về phía sau. Trong khi bắn, đầu đối diện của cần tay quay tỳ lên một vấu tròn cố định trên thân súng. Chuyển động lùi của cơ cấu chuyển động nổi làm nghiêng cần kéo nòng và mở khóa khớp khuỷu. Lực giật giúp mở khóa khớp khuỷu được hỗ trợ bởi khí thuốc. Khí thuốc rời khỏi đầu nòng được giữ lại một phần trong nắp đầu nòng và tác động lên chén đầu nòng (gắn vào nòng súng) để hỗ trợ đẩy cơ cấu chuyển động nổi về phía sau đến điểm mà cơ chế khớp khuỷu được mở khóa. Cụm khối khóa nòng sau đó mở hoàn toàn dưới sức ép của một lò xo, thứ mà cuối cùng sẽ đưa nó trở lại vị trí đóng. Lò xo đang chịu lực căng này tác động lên một tay quay được gắn ở phía đối diện của thân súng so với cần kéo nòng.[41][42][43]
Cụm khối tiếp đạn nằm trực tiếp phía trên khóa nòng. Nó tiếp nhận dây đai bằng vải bạt đã lắp đạn. Sau mỗi chu kỳ bắn, nó tiến dây đai thêm một viên để viên đạn mới sẵn sàng được nạp. Dây đai được tiến lên nhờ các lẫy chuyển động từ bên này sang bên kia. Các lẫy này được vận hành bởi một hệ thống liên kết khớp với cơ cấu chuyển động nổi. Một bộ lẫy thứ hai có lò xo hỗ trợ nghiêng lên xuống khi dây đai đi qua chúng. Những lẫy này giữ dây đai trong chu kỳ quay trở lại của các lẫy tiếp đạn.[41][42][43]
Cụm khối khóa nòng có chiều cao xấp xỉ bằng thân súng. Ở mặt trước của nó là khối móc đạn. Các đòn bẩy làm cho khối này di chuyển lên xuống khi cơ cấu vận hành theo chu kỳ. Nó có một khe với hai rãnh cho phép giữ gờ của vỏ đạn từ mỗi bên, giống như cách mà một kẹp đạn thực hiện. Với cụm khối khóa nòng đã đóng và sẵn sàng bắn, khối móc đạn kẹp vào đáy của hai viên đạn: viên đạn dưới nằm trong buồng đạn sẵn sàng nổ và một viên đạn trên nằm trong dây đai vải bên trong khối tiếp đạn. Khi cụm khối khóa nòng mở khóa sau khi bắn, móc đạn kéo vỏ đạn đã sử dụng ra khỏi buồng đạn và khi đã thoát ra hoàn toàn, vỏ đạn này rơi qua một cửa hất vỏ đạn ở mặt dưới của thân súng. Việc mở khóa cụm khối khóa nòng cũng rút viên đạn bên trên (viên tiếp theo sẽ được đưa vào buồng đạn) ra khỏi dây đai. Khi có đủ khoảng trống, khối móc đạn sẽ hạ viên đạn mới xuống cho đến khi nó thẳng hàng với buồng đạn. Chuyển động tiến tới của cụm khối khóa nòng sau đó sẽ đưa viên đạn vào buồng. Gần cuối chu kỳ tiến tới, khối móc đạn nâng lên để khớp với viên đạn tiếp theo đang sẵn sàng để nạp.<[41][42][43]
Cụm khối khóa nòng chứa kim hỏa và cơ chế cò súng. Kim hỏa, dưới lực căng của lò xo, đập vào hạt nổ của viên đạn thông qua một lỗ hổng trong khối móc đạn. Do đó, nó phải được rút lại trước khi khối móc đạn di chuyển xuống như một phần của chu kỳ nạp đạn. Sau khi rút lại, kim hỏa được giữ ở vị trí đã lên dây bằng một lẫy giữ, sẵn sàng cho chu kỳ bắn tiếp theo. Khi cụm khối khóa nòng đóng hoàn toàn vào khóa nòng, lẫy giữ nhả ra nhưng kim hỏa vẫn được giữ lại phía sau bởi cò súng. Phần đuôi của cò súng nhô ra từ phía trên của cụm khối khóa nòng.[41][42][43]
Để bắn khẩu súng đã nạp đạn, xạ thủ nhấn một lẫy bấm ở phía sau súng. Thông qua một đòn bẩy, hành động này kéo một thanh trượt làm bật cò súng để giải phóng kim hỏa. Vũ khí sau đó lặp lại chu kỳ để nạp viên đạn tiếp theo để bắn. Nếu lẫy bấm vẫn được nhấn khi khóa nòng đóng lại, cò súng sẽ lại được bật và một chu kỳ bắn tiếp theo sẽ diễn ra.[41][42][43]
Các quốc gia sử dụng
sửa
Úc[44][45]
Bangladesh[46]
Bỉ[47]
Bolivia — Được sử dụng trong Chiến tranh Chaco.[48]
Đế quốc Anh
Canada[60]
Ceylon — Được quân đội Ceylon sử dụng trong Cuộc nổi dậy của JVP.
Trung Hoa Dân Quốc[61]
Síp — Có thể đã được sử dụng trong Bạo lực cộng đồng tại Síp và được cung cấp từ Hy Lạp hoặc Thổ Nhĩ Kỳ.[62][63]
Ai Cập[64][65][36]
Đế quốc Ethiopia — Một khẩu Lớp C được mua vào năm 1911, vài khẩu nữa được mua vào năm 1925 và 1933[66]
Pháp — 2.000 khẩu được đặt hàng vào năm 1914[67]
Phần Lan — Súng máy Vickers từ nhiều nguồn khác nhau (sử dụng đạn 7.62×54mmR và .303 British) được mua từ năm 1920 và 100 khẩu cũng đã được Vương quốc Anh bàn giao trong Chiến tranh Mùa đông.[68]
Đế quốc Đức — Vào năm 1918, Schutztruppe đã sử dụng 17 khẩu súng máy Vickers thu giữ được trong Chiến dịch Tây Nam Phi.[69]
Hy Lạp[63][70]
Ấn Độ
Indonesia[71]
Ireland[72]
Israel[64][73]
Ý — 920 khẩu Vickers[74] sử dụng đạn 6.5×52mm Carcano được đặt hàng cho bộ binh (định danh là Vickers Mod. 1911)[75] nhưng chỉ có 609 khẩu được bàn giao do chiến tranh bùng nổ; kể từ năm 1917 Ý cũng nhận được các khẩu Vickers MK. I* sử dụng đạn .303 British dùng cho máy bay[22] (định danh là Vickers cal. 7,7). Vào giữa những năm 20, các khẩu Vickers cal. 7,7 đã được nâng cấp thành phiên bản Vickers cal. 7,7 modificate.[76]
Jordan — Quân đoàn Ả Rập[77]
Kuwait
Latvia — Các mẫu Vickers Mk I và Mk II (611 và 120 khẩu tính đến tháng 4 năm 1936)[78] được sử dụng bởi Quân đội Latvia trước năm 1940 và bởi các Tiểu đoàn Cảnh sát Latvia đồng minh với Đức Quốc xã.[79]
Mexico[80]
Nepal
Hà Lan — Hơn 1.000 khẩu đã được mua từ Anh vào tháng 12 năm 1918, định danh là Vickers M.18 No.1. Năm 1935, 800 khẩu được chuyển sang sử dụng đạn 7,92×57mmR và định danh là Vickers M.18 No.2.[81] Biến thể của Quân đội Hoàng gia Đông Ấn Hà Lan được định danh là súng máy M.23, sử dụng đạn 6.5×53mmR.[23] Đã sử dụng một số khẩu Vickers .303 do Úc hoặc Anh sản xuất trong Cách mạng Dân tộc Indonesia.[82]
New Zealand[83]
Pakistan[53] — Được quân đội Pakistan sử dụng trong Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan 1947.
Paraguay — Sở hữu 10 khẩu trước Chiến tranh Chaco,[84] và sau đó thu giữ một số lượng không xác định từ Bolivia.[48]
Philippines.[38]
Ba Lan — Sử dụng phiên bản hàng không, sau đó được chuyển sang sử dụng đạn 7.92×57mm Mauser.
Bồ Đào Nha — Được sản xuất tại địa phương với tên gọi m/917.[85]
România — 200 khẩu Vickers đang hoạt động.[86]
Đế quốc Nga — Súng máy Vickers do Colt sản xuất sử dụng đạn 7.62×54mmR.[26]
Sierra Leone[87]
Nam Phi[25]
Liên Xô — Thu được từ Latvia trong sưkkiieennj Liên Xô chiếm đóng Latvia năm 1940.
Cộng hòa Tây Ban Nha[88] — Được cung cấp bởi Liên Xô, Bolivia, và Paraguay trong Nội chiến Tây Ban Nha.[89]
Tonga[90]
Thổ Nhĩ Kỳ[62]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Hoa Kỳ — 12.125 khẩu Vickers đã được cấp cho Lục quân Hoa Kỳ tại Pháp.[27]
Việt Nam — Được Việt Minh sử dụng.[91]
Nam Yemen[92]
Chú thích
sửa- ↑ "Vickers Gun". spartacus-educational.com.
- ↑ "MR. KELLAWay's STATEMENT. (Hansard, 24 June 1919)".
- ↑ "SIR L. WORTHINGTON-EVANS' STATEMENT. (Hansard, 15 March 1926)".
- ↑ "Light Weapons". WW2 Armor (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012.
- ↑ Hogg, Ian V.; Batchelor, John (1976). Weapons & War Machines. London: Phoebus. tr. 62. ISBN 978-0-7026-0008-1.
"The Vickers gun accompanied the BEF to France in 1914, and in the years that followed, proved itself to be the most reliable weapon on the battlefield..." - ↑ Pegler 2013, tr. 28.
- ↑ Pegler 2013, tr. 29.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênarmoryvickers - ↑ Statistics of the military effort of the British Empire during the Great War : 1914–1920 (bằng tiếng Anh). London: HMSO. 1922. tr. 479.
- ↑ Driver, Hugh (1997). The Birth of Military Aviation: Britain, 1903–1914. Boydell & Brewer Ltd. tr. 126. ISBN 978-0-86193-234-4. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2014.
- 1 2 François, Guy (tháng 4 năm 2023). "Mitrailleuses et canons des avions français". Histoire de Guerre, Blindés et Matériel (bằng tiếng Pháp). Số 145. tr. 27–38.
- ↑ Barnes, Frank C. (2016). Cartridges of the World (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 15). Iola: Gun Digest Books. ISBN 978-1-4402-4642-5.
- ↑ "11x59R: 11 mm Gras Machine Gun & 11 mm Vickers". Imperial War Museums (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
- ↑ ".303-inch Mk II – the Vickers Machine Gun". ngày 23 tháng 11 năm 2017.
- ↑ ".303-inch Mk II* - the Vickers Machine Gun". ngày 23 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Chorlton, Martyn (2012). Hawker Hurricane Mk I-V. Air Vanguard No. 6 (bằng tiếng Anh). Oxford: Osprey Publishing. ISBN 978-1-78096-603-8.
- ↑ Rickard, J. (ngày 21 tháng 3 năm 2007). "Gloster Gladiator". Military History Encyclopedia on the Web. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015.
- ↑ Bishop 2002, tr. 403.
- ↑ Konstankiewicz, Andrzej (1986). Broń strzelecka Wojska Polskiego 1918–39 (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw. tr. 141. ISBN 83-11-07266-3.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - 1 2 Fisher, Richard E. "The Vickers Machine Gun". Vickers Machine Gun Collection & Research Association. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2014.
- 1 2 Goldsmith 1994.
- 1 2 di Difilippo, Max (2006). "Le mitragliatrici italiane della Grande Guerra" [Italian machine guns of the Great War]. Peaks and Trenches Historical Association (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015.
- 1 2 Lohnstein, Marc (ngày 23 tháng 8 năm 2018). Royal Netherlands East Indies Army 1936–42. Men-at-Arms 521. tr. 12, 21. ISBN 9781472833754.
- ↑ "Chile". Vickers MG Collection & Research Association (bằng tiếng Anh). and "El Salvador". Vickers MG Collection & Research Association (bằng tiếng Anh).
- 1 2 3 4 5 Steenkamp, Willem (2006) [1985]. Borderstrike! South Africa Into Angola 1975–1980 . Durban: Just Done Productions Publishing. tr. 52, 93. ISBN 978-1-920169-00-8.
- 1 2 3 4 5 6 G. Segel, Robert (ngày 6 tháng 1 năm 2012). "U.S. Colt Vickers Model of 1915". sadefensejournal.com. Small Arms Defense Journal. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015.
- 1 2 Pegler 2013, tr. 33.
- ↑ "Argentina" [Argentina]. Vickers MG Collection & Research Association (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Belgium" [Bỉ]. Vickers MG Collection & Research Association (bằng tiếng Anh).
- ↑ Mikesh, Robert C. (2004). Japanese Aircraft Equipment 1940–1945. Shiffer Publishing. tr. 115–116. ISBN 0-7643-2097-1.
- ↑ "France – the Vickers Machine Gun". ngày 13 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Australian Vickers, Korean War 1951 (Australian War Memorial).
- ↑ Steenkamp, Willem; Helmoed-Römer, Heitman (tháng 9 năm 2016). Mobility Conquers: The Story Of 61 Mechanised Battalion Group 1978–2005. Solihull: Helion & Company. tr. 731. ISBN 978-1-911096-52-8.
- ↑ Bloomfield, Lincoln P.; Leiss, Amelia Catherine (ngày 30 tháng 6 năm 1967). The Control of local conflict : a design study on arms control and limited war in the developing areas (PDF). Quyển 3. Massachusetts Institute of Technology. Center for International Studies. tr. 325. hdl:2027/uiug.30112064404368. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Bloomfield & Leiss 1967, tr. 706.
- 1 2 Bloomfield & Leiss 1967, tr. 711.
- 1 2 3 Colt Vickers Model 1915 (Forgotten Weapons).
- 1 2 "The U.S. Colt Vickers Model of 1915 Water-Cooled Machine Gun". Small Arms Review. ngày 2 tháng 9 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Goldsmith 1994, tr. 229.
- ↑ Goldsmith 1994, tr. 188.
- 1 2 3 4 5 The Armourer's Bench (ngày 4 tháng 8 năm 2019). TAB Episode 52: Vickers Gun Disassembly. YouTube (Video) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021.
- 1 2 3 4 5 Robert Brassington (ngày 26 tháng 7 năm 2015). Vickers Mk1 1914. YouTube (Video) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021.
- 1 2 3 4 5 Vickers MG Collection & Research Association (ngày 3 tháng 11 năm 2020). Vickers MG study: H 5529 (and the Vickers machine gun mechanism). YouTube (Video) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Pegler 2013, tr. 48-49.
- ↑ Smith 1969, tr. 203.
- ↑ "Arms for freedom". ngày 29 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Smith 1969, tr. 212.
- 1 2 Alejandro de Quesada (ngày 20 tháng 11 năm 2011). The Chaco War 1932-35: South America's greatest modern conflict. Osprey Publishing. tr. 33. ISBN 978-1-84908-901-2.
- ↑ "British Empire/ Colonies and Protectorates" (PDF). Armaments year-book : general and statistical information. Series of League of Nations publications. IX, Disarmament. Quyển A.37.1924.IX. Geneva: League of Nations. 1924. tr. 126. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Vickers Heavy Machine Gun". Hong Kong Baptist University. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Military gathering-007-ready to defend". Gwulo Old Hong Kong. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ↑ League of Nations 1924, tr. 156.
- 1 2 Bishop 2002, tr. 244.
- ↑ Smith 1969, tr. 460.
- ↑ League of Nations 1924, tr. 185.
- ↑ "RaRe & Klasik – Anggota Tentera từ Regimen Askar Melayu tại Singapore – 1941". Facebook (bằng tiếng Mã Lai).
- ↑ League of Nations 1924, tr. 196.
- ↑ League of Nations 1924, tr. 163.
- ↑ League of Nations 1924, tr. 173.
- ↑ Chartrand, René (ngày 15 tháng 12 năm 2001). Canadian Forces in World War II. Men-at-Arms 359. tr. 14. ISBN 9781841763026.
- ↑ Jowett, Philip (ngày 10 tháng 9 năm 2010). Chinese Warlord Armies 1911–1930. Men-at-Arms 463. Osprey Publishing. tr. 22–23. ISBN 978-1-84908-402-4.
- 1 2 Bloomfield & Leiss 1967, tr. 861.
- 1 2 Bloomfield & Leiss 1967, tr. 863.
- 1 2 Tucker, Spencer C.; Roberts, Priscilla Mary, biên tập (tháng 5 năm 2008). "Machine guns". The Encyclopedia of the Arab-Israeli Conflict: A Political, Social, and Military History. ABC-CLIO. tr. 653. ISBN 978-1-85109-841-5.
- ↑ Smith 1969, tr. 613.
- ↑ "Abyssinia" [Abyssinia]. Vickers MG Collection & Research Association (bằng tiếng Anh).
- ↑ Pegler 2013, tr. 32-33.
- ↑ Vickers machine gun (jaegerplatoon.net).
- ↑ Adams, Gregg (ngày 22 tháng 9 năm 2016). King's African Rifles Soldier vs Schutztruppe Soldier: East Africa 1917–18. Combat 20. tr. 61. ISBN 9781472813275.
- ↑ Smith 1969, tr. 450.
- ↑ Smith 1969, tr. 461.
- ↑ Byrne, Ciaran (ngày 27 tháng 7 năm 2016). "The True Story of the Heroic Battle That Inspired the New Netflix Film The Siege of Jadotville". Time.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
- ↑ Smith 1969, tr. 464&467.
- ↑ Cabrio 2008, tr. 79, 107.
- ↑ Pignato, N. (2010). Le armi di una victory-2° (bằng tiếng Ý). Gaspari Editore. tr. 48.
- ↑ Gentilli, R. L'aviazione da caccia italiana 1918-1939, Volume II (bằng tiếng Ý). tr. 136, 137.
- ↑ Young, Peter (1972). The Arab Legion. Men-at-Arms. Osprey Publishing. tr. 24. ISBN 978-0-85045-084-2.
- ↑ Dambītis, Kārlis (2016). Latvijas armijas artilērija 1919.-1940.g.: Vieta bruņotajos spēkos, struktūra un uzdevumi [Artillery of the Latvian Army (1918–1940): structure, tasks and place in the Armed forces] (PhD thesis). University of Latvia. tr. 225.
- ↑ Thomas, Nigel; Caballero Jurado, Carlos (ngày 25 tháng 1 năm 2002). Germany's Eastern Front Allies (2): Baltic Forces. Men-at-Arms 363. Osprey Publishing. tr. 46–47. ISBN 9781841761930.
- ↑ Smith 1969, tr. 147.
- ↑ "Vickers M.018". grebbeberg.nl (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Bloomfield & Leiss 1967, tr. 79,89.
- ↑ Stack, Wayne; O'Sullivan, Barry (ngày 20 tháng 3 năm 2013). The New Zealand Expeditionary Force in World War II. Men-at-Arms 486. Osprey Publishing. tr. 44. ISBN 9781780961118.
- ↑ Samaniego, Marcial (1985). "Situación de las Fuerzas Armadas de la Nación en el decenio de la pré-Guerra del Chaco". Anuário de la Academia de Historia Militar del Paraguay (bằng tiếng Tây Ban Nha). 1. Academia de Historia Militar del Paraguay.
- ↑ Smith 1969, tr. 530.
- ↑ Ministerul Apărării Naționale Marele Stat Major Serviciul istoric (1934). "Documente–Anexe". România în războiul mondial : 1916-1919 (bằng tiếng Romania). Quyển I. tr. 56.
- ↑ "World Infantry Weapons: Sierra Leone". 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2016.
- ↑ de Quesada, Alejandro (ngày 20 tháng 1 năm 2015). The Spanish Civil War 1936–39 (2): Republican Forces. Men-at-Arms 498. Osprey Publishing. tr. 38. ISBN 9781782007852.
- ↑ Heinz, Leonard. "Small Arms of the Spanish Civil War" (PDF).
- ↑ Capie, David (2004). Under the Gun: The Small Arms Challenge in the Pacific. Wellington: Victoria University Press. tr. 66–69. ISBN 978-0864734532.
- ↑ "Indochine 1945-1954: Le Viet-Minh". Militaria (bằng tiếng Pháp). Số 180. Histoire & Collections. tháng 7 năm 2000. tr. 16.
- ↑ Vickers machine gun (WWIIAfterWWII).
Nguồn chính
sửa- Goldsmith, Dolf L. (1994). Stevens, R. Blake (biên tập). The Grand Old Lady of No Man's Land: The Vickers Machinegun. Cobourg, Ontario: Collector Grade Publications. ISBN 978-0889351479.
- Pegler, Martin (ngày 20 tháng 5 năm 2013). The Vickers-Maxim Machine Gun. Weapon 25. Osprey Publishing. ISBN 9781780963822.
- Smith, Joseph E. (1969). Small Arms of the World (ấn bản thứ 11). Harrisburg, Pennsylvania: The Stackpole Company. ISBN 9780811715669.
- Bishop, Chris (2002). "Vickers machine-guns". The Encyclopedia of Weapons of World War II. Sterling Publishing Company. tr. 244, 403. ISBN 978-1-58663-762-0.
Nguồn thứ cấp
sửa- McCollum, Ian (ngày 12 tháng 4 năm 2021). "Colt's Model 1915 Vickers Gun in .30-06". forgottenweapons.com. Forgotten Weapons. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- jwh1975 (ngày 9 tháng 9 năm 2018). "WWII weapons in Yemen's civil war". WWIIAfterWWII. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2023.
The Vickers machine gun also served the UK during both world wars. Water-cooled, it fired the .303 British cartridge from 250 round fabric belts at 450rpm. This weapon weighed 51 lbs and as designed, had a 3-man team assigned to it. During the Federation of South Arabia's [the predecessor to South Yemen's] short life, it had its own military, called the Federal Army. Its main medium machine gun was the Vickers.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - "7,62 mm and 7,70 mm Vickers Machineguns | FINNISH ARMY 1918 - 1945: MACHINEGUNS PART 2". www.jaegerplatoon.net. Finland. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- "Gun, Machine, .303 inch, Mk 1 & Vickers Machine-Gun". iwm.org.uk. Imperial War Museum. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- "CHIPYONG-NI, KOREA. 1951-02. VICKERS .303 MACHINE GUN ENGAGED IN COMBAT WITH THE CHINESE ON ONE ..." www.awm.gov.au (bằng tiếng Anh). Australian War Memorial. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2019.