Stryker là một họ xe chiến đấu bọc thép tám bánh được phát triển dựa trên mẫu LAV III của Canada, vốn có nguồn gốc từ dòng Mowag Piranha của Thụy Sĩ. Các phương tiện Stryker được sản xuất bởi General Dynamics Land Systems-Canada (GDLS-C) cho Lục quân Hoa Kỳ tại một nhà máy ở London, Ontario. Xe có hệ thống dẫn động bốn bánh (8×4) và có thể chuyển sang dẫn động toàn phần (8×8).

Stryker
Xe chở quân bộ binh M1126 Stryker (ICV)
LoạiXe thiết giáp chở quânxe chiến đấu bộ binh
Nơi chế tạoCanada/Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ2002–nay
Sử dụng bởiHoa Kỳ (xem phần Các quốc gia vận hành)
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtGeneral Dynamics Land Systems-Canada[1]
Giá thành4,9 triệu USD (2012)[2]
Số lượng chế tạo~4.900 chiếc (bao gồm 4.466 chiếc trong Lục quân Hoa Kỳ)[3]
Các biến thểxem Các biến thể của Stryker
Thông số
Khối lượngICV: 18,16 tấn Mỹ (16,47 t)
MGS: 20,69 tấn Mỹ (18,77 t)
Chiều dài22 ft 10 in (6,95 m)
Chiều rộng8 ft 11 in (2,72 m)
Chiều cao8 ft 8 in (2,64 m)
Kíp chiến đấuThay đổi tùy phiên bản, thường là 2
Số người chứa đượcTối đa 9 binh sĩ

Phương tiện bọc thépGiáp gốm bổ sung: bảo vệ toàn diện chống đạn 14,5×114mm[4]
Vũ khí
chính
Vũ khí
phụ
Súng máy 12,7 mm M2 và súng máy 7,62 mm M240 (trên bản M1128 MGS)
Động cơCaterpillar C7
350 hp (260 kW)
Công suất/trọng lượngICV: 19,3 hp/tấn (15,8 kW/tấn)
Hệ thống treoBánh lốp 8×8
Tầm hoạt động310 mi (500 km)
Tốc độ60 mph (97 km/h)[5]

Stryker được hình thành như một họ xe đóng vai trò xương sống cho một loại hình đội hình chiến đấu lữ đoàn hạng trung (BCT) mới, nhằm tạo ra sự cân bằng giữa các lữ đoàn thiết giáp hạng nặng và các lữ đoàn bộ binh hạng nhẹ. Quân đội Mỹ đã tổ chức cuộc thi Interim Armored Vehicle (Xe bọc thép chuyển tiếp), và vào năm 2000, họ đã lựa chọn mẫu LAV III do liên doanh GDLS và General Motors Defense đề xuất. Họ đặt tên cho họ xe này là "Stryker".

Mười biến thể Stryker đã được hình thành ban đầu, một số trong số đó đã được nâng cấp với khung gầm chữ V (v-hull) để tăng khả năng chống mìn.

Lịch sử phát triển

sửa

Cuộc thầu Xe thiết giáp Chuyển tiếp (IAV)

sửa

Vào tháng 10 năm 1999, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, Đại tướng Eric Shinseki, đã phác thảo một kế hoạch chuyển đổi cho Lục quân nhằm giúp lực lượng này thích nghi với các điều kiện thời hậu Chiến tranh Lạnh. Kế hoạch mang tên "Objective Force" (Lực lượng Mục tiêu), hướng lục quân áp dụng một học thuyết linh hoạt, cho phép triển khai nhanh chóng và được trang bị cho nhiều loại hình tác chiến khác nhau.[6] Giai đoạn đầu của kế hoạch kêu gọi giới thiệu một loại Interim Armored Vehicle (IAV - Xe thiết giáp Chuyển tiếp), nhằm lấp đầy khoảng cách năng lực giữa các loại xe hạng nặng, hỏa lực mạnh nhưng khó triển khai nhanh (như M2 Bradley) và các loại xe dễ triển khai nhưng hỏa lực và bảo vệ yếu (như Humvee).[7]

IAV được dự định là một phương tiện tạm thời cho đến khi các xe cơ động hàng không hạng nhẹ từ chương trình Future Combat Systems Manned Ground Vehicles đi vào hoạt động (tuy nhiên chương trình này đã bị hủy bỏ trước khi có sản phẩm nào ra đời).[8]

Liên danh General Dynamics–General Motors

sửa

Vào tháng 2 năm 2000, General DynamicsGeneral Motors thông báo họ sẽ hợp tác để tham gia cuộc thầu IAV. Thỏa thuận này dựa trên những nỗ lực hợp tác trước đó: Vào tháng 1 năm 1999, chi nhánh General Dynamics Land Systems (GDLS) tại Canada đã tích hợp tháp pháo cấu hình thấp (LPT) của mình lên phiên bản xe pháo tự hành của mẫu LAV III.[9] Liên danh General Motors Defense–General Dynamics Land Systems đã giành được hợp đồng trị giá 8 tỷ USD vào tháng 11 năm 2000 để sản xuất 2.131 xe dựa trên biến thể LAV III của Canada, nhằm trang bị cho sáu Lữ đoàn Chiến đấu triển khai nhanh (SBCT) trước năm 2008.[10] Tập đoàn United Defense đã khiếu nại kết quả thầu vào tháng 12, cho rằng đề xuất của họ có chi phí thấp hơn một nửa so với GM–GDLS, nhưng Cơ quan Kiểm toán Chính phủ (GAO) đã bác bỏ khiếu nại này vào tháng 4 năm 2001.[11]

Trợ lý Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ Paul J. Hoeper đã gọi IAV là "thiết bị thương mại có sẵn tốt nhất thế giới trong phân khúc này", mặc dù nhiều người trong Lục quân vẫn hoài nghi liệu những chiếc xe này có bị "dưới tầm" khi phải đối mặt với các vũ khí hạng nặng khác trên chiến trường hay không.[10] Vào tháng 2 năm 2002, Lục quân chính thức đổi tên IAV thành "Stryker" để vinh danh hai quân nhân Hoa Kỳ (không có quan hệ họ hàng) được truy tặng Huân chương Danh dự: Binh nhất Stuart S. Stryker, tử trận trong Thế chiến II, và Chuyên viên bậc bốn Robert F. Stryker, tử trận trong Chiến tranh Việt Nam.[12]

Sản xuất và triển khai

sửa
Nội thất bên trong một chiếc xe Stryker IFV

Vào năm 2002, khi chương trình Stryker đối mặt với sự chỉ trích từ các nhà lập pháp, các quan chức Lầu Năm góc đã cân nhắc giảm số lượng Lữ đoàn Chiến đấu Stryker dự kiến từ sáu xuống còn ba để tiết kiệm 4,5 tỷ USD chi phí. Đến tháng 10, khả năng vận chuyển bằng máy bay vận tải C-130 của Stryker đã được trình diễn cho các nhà lập pháp tại Căn cứ Không quân Andrews. Tại hội nghị của Hiệp hội Lục quân Hoa Kỳ (AUSA), Tham mưu trưởng Lục quân Eric Shinseki đã bảo vệ kế hoạch sáu lữ đoàn và tuyên bố rằng C-130 có thể chở một chiếc Stryker theo "mọi cách, trừ việc để nằm ngang".[13]

Bốn lữ đoàn đã được cấp ngân sách trong đề xuất ngân sách của Bộ Quốc phòng cho năm tài khóa 2004. Vào tháng 5, Lục quân đã sẵn sàng để Stryker đạt năng lực vận hành ban đầu tại Fort Polk. Tờ The New York Times lưu ý về tốc độ nhanh chóng mà chương trình đã tiến hành kể từ khi khởi xướng vào năm 1999.[14]

Tháng 11 năm 2003, 311 xe Stryker đã được triển khai trong Chiến tranh Iraq, nơi chúng đạt được những thành công lẫn lộn.[15] Vốn không được thiết kế cho các cuộc giao tranh trực diện ở tiền tuyến, những chiếc xe này đã bị đẩy vào vai trò chống quân nổi dậy để đáp ứng nhu cầu cấp thiết lúc bấy giờ.[16]

Sự kháng cự quyết liệt ngoài dự kiến của quân nổi dậy đã buộc quân đội phải nâng cấp giáp xe ngay tại chiến trường. Để đối phó với mối đe dọa từ súng chống tăng RPG, General Dynamics đã phát triển giáp lồng, làm trọng lượng tổng thể của Stryker tăng thêm 5.000 lb (2.270 kg). Ngoài việc cản trở khả năng cơ động dã chiến, lớp giáp lồng nặng nề này đã khiến việc vận chuyển Stryker bằng máy bay C-130 trở nên bất khả thi.[16]

Vào tháng 2 năm 2005, Tham mưu trưởng Lục quân, Đại tướng Peter J. Schoomaker, đã phát biểu trước Ủy ban Vũ trang Hạ viện rằng "chúng tôi hoàn toàn nhiệt huyết với những gì Stryker đã làm được." Tuy nhiên, một báo cáo rò rỉ của Lục quân Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 2004 lại cho rằng Stryker "chỉ hiệu quả và có khả năng sống sót với những hạn chế nhất định trong các tình huống xung đột quy mô nhỏ." Báo cáo dựa trên phản hồi từ lực lượng vận hành Stryker tại Mosul, đã mô tả hàng loạt lỗi thiết kế và cho rằng hiệu quả của phương tiện "đang trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt hơn."[15]

Phiên bản pháo tự hành 105 mm M1128 MGS đã tiến vào giai đoạn sản xuất loạt nhỏ vào năm 2005 để đánh giá và đi vào sản xuất hàng loạt vào năm 2007. General Dynamics Land Systems-Canada lắp ráp Stryker cho Lục quân Hoa Kỳ tại một nhà máy ở London, Ontario. Phương tiện này được biên chế trong các Lữ đoàn Chiến đấu Stryker, những đơn vị cơ động nhẹ dựa trên học thuyết kết nối phương tiện thông qua mạng lưới chỉ huy và kiểm soát C4I.

Chi nhánh Robot System của General Dynamics cũng đã phát triển hệ thống điều hướng tự hành cho Stryker, cho đến khi chương trình bị cắt giảm vào tháng 7 năm 2011. Trung tâm Nghiên cứu, Phát triển và Kỹ thuật Xe tăng (TARDEC) đã thử nghiệm hệ thống treo từ tính cho Stryker tại bãi thử Yuma, giúp xe đạt được sự ổn định cao hơn đáng kể.[17]

Các nâng cấp

sửa
Một chiếc Stryker tại Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Fort Irwin

Qua quá trình pục vụ, Stryker đã được trải qua nhiều nâng cấp để tăng tính sống sót và nhận được các "kit" được thiết kế để tăng sức chống chịu của xe.[18]

Lục quân Hoa Kỳ có kế hoạch nâng cấp đội xe Stryker của họ với bộ hệ thống treo bán tự động, chỉnh sửa khung thân thành khung thân hình chữ V để bảo vệ xe và kíp lái khỏi các thiết bị nổ tự chế. Những nâng cấp đó bao gồm giáp bổ sung cho hai bên hông, thiết kế lại các cửa sập để giảm thiểu kẽ hở với giáp, ghế ngồi hấp thụ lực chống mìn, lốp xe chống cháy, một tháp pháo điều khiển từ xa nâng cấp để có thể bắn khi xe di chuyển, hệ thống mới tăng khả năng phát điện lên đến 500 ampere, kết hợp với hệ thống phân phối điện trạng thái rắn và data bus mới. Ngoài ra, các cải tiến về hệ thống động lực và khung gầm giúp xe hỗ trợ trọng lượng tổng thể lớn hơn 25% (tương đương 1/4). Khung gầm chữ V nâng cấp sẽ là một phần của bộ thiết bị nhận biết tình huống StrykShield mới, bộ thiết bị này sẽ tích hợp đồng bộ nhiều nâng cấp kể trên. Giáp thép của ATI 500-MIL củaAllegheny Technologies được thiết kế để trở thành giáp chính của gói StrykShield vào năm 2008.[19]

Bản nâng cấp tích hợp các bài học kinh nghiệm từ chiến trường Afghanistan được định danh là LAV-H. General Dynamics đã trưng bày một mẫu trình diễn công nghệ tại Triển lãm của Hiệp hội Lục quân Hoa Kỳ (AUSA) năm 2007.[20] Vào tháng 3 năm 2010, có thông tin cho rằng General Dynamics và Lục quân Hoa Kỳ đang hợp tác để tích hợp thiết kế khung thân kép hình chữ V lên Stryker.[21][22][23][24] Tháng 7 năm 2010, Lục quân trao gói thầu trị giá 30 triệu đô cho GDLS nhằm sản xuất mẫu khung thân mới.[25]

Tháng 3 năm 2011, trưởng bộ phận thử nghiệm và đánh giá của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đánh giá rằng khung thân chữ V mới không phù hợp với những nhiệm vụ lâu dài tại địa hình Afghanistan. Vấn đề nằm ở khoang lái chật chội và các khó khăn trong việc tách rời ghế lái để cứu hộ trơng trường hợp lái xe bị thương. General Dynamics lưu ý rằng những vấn đề này sẽ được sửa trước khi phiên bản mới được triển khai.[26] Gói nâng cấp làm khối lượng xe tăng thêm đáng kể, khiến cho xe có thể bị lún tại những vùng đất mềm.[27]

Vào tháng 7 năm 2011, 450 chiếc Stryker phiên bản khung xe kép hình chữ V được đặt hàng. Số lượng được tăng lên đến 742 chiếc vào vài tháng sau và lên đến 760 chiếc vào năm 2012. Những chiếc Stryker này bao gồm cấu hình khung thân mới, giáp tăng cường, hệ thống treo và phanh được nâng cấp, lốp rộng hơn, ghế ngồi hấp thụ xung lực và hệ thống tùy chỉnh chiều cao xe.[28][29][30]

Một chiếc Stryker trong một cuộc tập trận tại Đức, 2012

Đến tháng 8 năm 2012, đội hình Stryker của Lục quân Hoa Kỳ bao gồm 4.187 chiếc, với 10 phiên bản đáy phẳng và 7 phiên bản đáy chữ V. Tại Afghanistan, loại xe này đạt tỉ lệ sẵn sàng chiến đấu là 96%. Để nâng cấp đội hình sẵn có, Lục quân đã đề xuất chương trình Đề xuất Thay đổi Kỹ thuật (Engineering Change Proposal - ECP) nhằm cung cấp mẫu động cơ mạnh mẽ hơn, hệ thống treo cải tiến và hệ thống máy tính thế hệ mới.[31]

Giai đoạn 1 của chương trình ECP bao gồm việc nâng cấp hệ thống điện bằng việc thay thế máy phát điện xoay chiều sẵn có có cường độ dòng điện 570 amp với mẫu có cường độ 910 amp, thay thế động cơ 350 mã lực với động cơ mới mạnh 350 mã lực, hệ thống treo khỏe hơn để tăng tính cơ động với khối lượng xe lớn hơn và hệ thống ạng nội bộ xe để cải thiện dữ liệu và video chia sẻ giữa kíp lái và các xe khác bảo mật và đáng tin cậy hơn.[31] Vào tháng 5 năm 2013, Kongsberg Integrated Tactical Systems được trao gói thầu để cung cấp Màn hình Hiển thị Nhận thức Tình huống của Lái Xe (Driver's Situational Awareness Display -DSAD) and Màn hình Hiển thị Nhận thức Tình huống của Trưởng xe (Commander's Situational Awareness Display - CSAD) cho chương trình ECP, bao gồm vi xử lí và cổng xuất nhập cho cả dữ liệu và video.[32]

Tính đến tháng 1 năm 2014, Lục quân Hoa Kỳ có hai Lũ đoàn Stryker hoàn thành gói nâng cấp khung thân đôi.Lữ đoàn thứ ba , Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn Bộ binh số 2 tại Căn cứ Liên hợp Lewis–McChord, sẽ hoàn thành nâng cấp với cuối năm tài khóa 2016.[33] Vào giữa tháng 10 năm 2014, Lục quân chấp thuận gói mua sẵm Stryker khung thân kép cho lữ đoàn Stryker thứ tư, với việc chuyển đổi sang 360 phương tiện mới bắt đầu vào năm tài khóa 2017. Các xe Stryker sẽ là những phương tiện đầu tiên nhận được gói nâng cấp ECP để xử lý các cải tiến tốt hơn so với ba lữ đoàn xe trước đó, vốn đã gặp phải tình trạng tăng trọng lượng, giảm khả năng cơ động và gánh nặng về điện năng. Những chiếc Stryker đã nâng cấp khung gầm chữ V kép (DVH) trước đây sẽ nhận được các cải tiến ECP khi có nguồn kinh phí. Các cải tiến ECP bao gồm động cơ 450 HP mạnh mẽ hơn, máy phát điện công suất lớn 910 amp, nâng cấp khung gầm để phù hợp với động cơ mới và cải thiện mạng lưới nội bộ của phương tiện.[34] Vào năm 2018, Hội đồng Giám sát Yêu cầu Lục quân chấp thuận gói mua sắm chuyển đổi tất cả mẫu Stryker đáy phẳng lên tiêu chuẩn khung thân đôi DVHA1. Chuơng trình sẽ được hoàn thành qua kết giữa nâng cấp các phương tiện cũ và mua mới các xe. Lục quân Hoa Kỳ đặt mục tiêu là 4.459 chiếc, cho phép tất cả các lữ đoàn Stryker nhận phương tiện và các đơn vị khác trong Lục quân có thể sử dụng phiên bản M-SHORAD và phòng hóa. Gói mua sắm sẽ kéo dài đến thập niên 2030 và quân đội sẽ nhận trung bình 165 chiếc Stryker hoặc nửa lữ đoàn Stryker mỗi năm.[35]

Việc nâng cấp lên lữ đoàn thứ tư cũng sẽ giữ dây chuyền sản xuất hoạt động qua năm 2018, trong khi quyết định nâng cấp sau khi dây chuyền đóng cửa sẽ rất tốn kém để tái khởi động lại dây chuyền.[36] Những nâng cấp về động cơ và máy phát điện, hệ thống treo 60.000 lb (27.000 kg), và khung thân kép sẽ gán cho mẫu này định danh là Stryker-A1.[37] Lục quân có kế hoạch tăng sức sát thương cho các xe Stryker bằng cách trang bị cho một nửa số xe với pháo tự động 30 mm và trang bịcho nửa còn lại tên lửa chống tăng Javelin trên tháp pháo tự động RWS cho mỗi lữ đoàn.[38] Đến tháng 9 năm 2020, một nửa Lữ đoàn 2,Sư đoàn Bộ binh số 4 đã được trang bị phiên bản Stryker DVHA1 thế hệ thứ ba.[39]

M-SHORAD

sửa

Tiểu đoàn số 5, Trung đoàn Phòng không số 4 huấn luyện với nguyên mẫu M-SHORAD trong cuộc diễn tập tại BPTA, Ba Lan, tháng 2 năm 2022

Vào tháng 2 năm 2028, Lục quân thông báo rằng các phương tiện Stryker sẽ được chỉnh sửa với cảm biến và vũ khí để đảm nhiệm nhiệm vụ trở thành Hệ thống Phòng không Tầm ngắn Cơ động (Maneuver-Short-Range Air Defense - M-SHORAD). Động thái này nhắm lấp đầy khoảng trống đối phó với các phương tiện bay không người lái của Nga tại châu Âu. Với việc đã quen với chiến đầu tại chiến trường Trung Đông, Lục quân Hoa Kỳ đã bỏ qua khả năng phòng không tầm ngắn của mình.[40] Trong các cuộc xung đột tương lai, họ lo ngại rằng họ không thể dựa vào ưu thể trên không để chống lại các máy bay của đối phương. Với việc triển khai hệ thống AN/TWQ-1 AvengerMANPADS FIM-92 Stinger, Stryker được nâng cấp để trở thành một giải pháp tạm thời trong khi phát triển một giải pháp phòng không cơ động lâu dài.[41]

Vì phiên bản Avenger vốn dựa trên khung gầm Humvee không đủ sức chống chịu và tầm hoạt động để phối hợp với các lực lượng cơ động và chống lại máy bay đối phương trong khu vực giao chiến, bốn tiểu đoàn với 144 chiếc Stryker SHORADs được lên kế hoạch, với khẩu đội đầu tiên bao gồm 12 hệ thống đi vào hoạt động từ năm 2020. Stryker được lựa chọn làm nền tảng bởi nó có giáp bảo vệ tốt và kích thước, trọng lượng và nguồn điện lớn, đặc biệt với khả năng tích hợp vũ khí năng lượng cao trong tương lai. Đơn vị đầu tiên được trang bị là Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Phòng không số 5. Lục quân dự định sẽ chọn cấu hình trang bị cho phương tiện vào cuối năm 2018.[42]

Tháng 6 năm 2018, Lục quân chọn Leonardo DRS làm nhà cung cấp gói trang bị tên lửa, với sự hợp tác của Moog Inc. để tích hợp Nền tảng vũ khí tích hợp có thể cấu hình lại (Reconfigurable Integrated-weapons Platform - RIwP) lên phương tiện. Hệ thống có thể trang bị pod tên lửa Stinger và ray tên lửa Longbow Hellfire cùng với pháo tự động missile rails and comes equipped with a 30 mm M230LF và súng máy đồng trục 7.62 mm M240, với khả năng đánh chặn phi đạn đạo và Radar Bán cầu Đa nhiệm (Multi-Mission Hemispheric Radar - MHR) của RADA Electronic Industries.[43]

Lục quân chọn DRS bởi khả năng linh hoạt trong việc tùy chỉnh tháp pháo để có thể nâng cấp và trang bị các vũ khí thay thế mà ít phải thay đổi nền tảng vũ khí sẵn có bởi họ cần giữ nền tảng Stryker được đồng bộ. Đồng thời nền tảng này cũng giúp kíp lái có thể tái nạp các vũ khí từ bên trong xe. Tất cả 144 hệ thống M-SHORAD được dự kiến bán giao trước năm 2022.[44]

Tháp pháo có thể gắn một pod gồm 4 đạn Stinger hoặc hai tên lửa Hellfire mỗi bên. Việc nạp đạn cho pháo M230LF và tên lửa Stingers có thể được thực hiện qua cửa sập trên mái và sẽ cung cấp mức độ bảo vệ nhất định. Hệ thống có thể đảm nhiệm vai trò chống phương tiện bởi pháo 30 mm vốn có cỡ nòng lớn hơn pháo 25 mm trên M2 Bradley và tên lửa Hellfire có tầm bắn lớn hơn tên lửa TOW được gắn trên các phương tiện khác.[45]

Vào tháng 9 năm 2020, Lục quân trao cho General Dynamics gói thầu IM-SHORAD trị giá 1,2 tỉ đô để cung cấp 144 hệ thống trong 5 năm. Đơn hàng đầu tiên là 28 hệ thống trị giá 230 triệu đô.[46] Bốn hệ thống đầu tiên được triển khai tới Đức vào tháng 4 năm 2021 trong đội hình Tiểu đoạn 5, Trung đoàn Pháo phòng không số 4 dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư lệnh Phòng không và Tên lửa Lục quân số 10. Một tiểu đoàn đầy đủ sẽ đi vào hoạt động từ tháng 9 năm 2021.[47][48]

Vào năm 2024, phương tiện phòng không M-SHORAD dựa trên nền tảng Stryker đã chính thức được đặt tên là Sergeant Stout. Cái tên này nhằm vinh danh Mitchell W. Stout, người lính Pháo phòng không duy nhất cho đến nay được trao tặng Huân chương Danh dự vì hành động dũng cảm trong Chiến tranh Việt Nam.[49]

M-SHORAD với hai pod tên lửa Stinger

Đến năm 2025, Lục quân Hoa Kỳ tiến đến trang bị cấu hình M-SHORAD Increment 3 để đối phó với sự thiếu hụt số lượng và sự gia tăng các mối đe dọa trên không. Một nâng cáp lớn bao gồm việc thảo bỏ các tên lửa AGM-114L Longbow Hellfire khỏi các phiên bản trong tương lai. Do được gắn bên ngoài trên khung gầm Stryker, tên lửa Hellfire phải chịu nhiều lực rung, tiếp xúc với môi trường khiến dẫn đến việc hao mòn trên tên lửa và gây ra nhiều rủi ro an toàn. Để thay thế, Lục quân sẽ tăng gấp đôi số tên lửa Stinger từ 4 trên mỗi xe lên đến 8 bằng cách thêm một pod thứ hai. Điều này giúp cho hệ thống có sức hoạt động dài hơn trong các nhiệm vụ chống lại UAV bầy đàn hay đối với các mục tiêu đa trục. Tên lửa Stinger cũng còn hiệu qảu chống lại các máy bay trực thăng và UAV cỡ nhỏ nhưng có nhiều hạn chế trong đối phó với các mối đe dọa có tầm bay cao, tốc độ lớn và khả năng cơ động tốt. Để nâng cấp khả năng, gói nâng cấp Increment 3 sẽ bao gồm Thiết bị Đánh chặn Tầm ngằn Thế hệ mới (Next Generation Short Range Interceptor - NGSRI), trang bị với đầu dò đa chế độ và tầm đánh chặn vượt trội so với tên lửa FIM-92 Stinger.[50][51][52]

DE M-SHORAD

sửa
DE M-SHORAD

Lục quân bắt đầu thử nghiệm đưa laser lên một chiếc M-SHORAD vào năm 2019.[53] Một buổi bắn thử thực chiến được tổ chức vào tháng 7 năm 2021, [54] sau đó Raytheon được trao hợp đồng để cung cấp 1 trung đội với 4 phương tiện, mỗi phương tiện đựuoc trang bị một máy phát laser 50 kW để chống lại các phương tiện bay không người lái cỡ nhỏ, rocket, đạn pháo và đạn súng cối. Hai chiếc Stryker đầu tiên trang bị vũ khí năng lượng được bàn giao vào đầu năm 2023 cho mục đích huấn luyện. Một trung đội thứ hai được dự kiến đặt hàng vào cuối năm 2023, với kế hoạch chuyển đổi sang chương trình ghi nhận vào năm 2025. Sau đó, một cuộc thầu sẽ được mở ra để sản xuất đại trà DE M-SHORAD.[53] Bốn chiếc Stryker trang bị hệ thống DE M-SHORAD đã được triển khai đến Trung Đông vào tháng 2 năm 2024 để thử nghiệm trong điều kiện tác chiến thực tế.[55]

Hệ thống Tác chiến điện tử Chiến Thuật (Tactical Electronic Warfare System - TEWS)

Hệ thống Tác chiến điện tử Chiến Thuật (Tactical Electronic Warfare System - TEWS) là phiên bản hệ thống tác chiến cấp chiến thuật và thu thập tín hiệu được tích hợp lên Stryker được sử dụng bởi Lữ đoàn Chiến đấu của Lục quân Hoa Kỳ. TEWS là hệ thống tác chiến hoạt động được trong mọt thời tiết, thông suốt 24 giờ có khả năng triên khai nhanh cung cấp hỗ trợ và tấn công điện tử đối với các thiết bị thu phát radio của đối phương. Mỗi hệ thóng được trang bị các antenna , đầu thu, bộ xử lí và thiết bị tấn công điện tử trên một khung gầm Stryker, cho phép hoạt động khi đóng quân hoặc di chuyển. TEWS cũng được tích hợp hệ thống nhận diện tín hiệu dựa trên học máy, tích hợp các bộ dò tín hiệu của Cộng đồng Tình báo và các kỹ thuật tấn công điện tử, đồng thời dựa vào GPS và thông tin liên lạc vô tuyến chiến thuật để hỗ trợ nhận thức tình huống và khả năng phản ứng trên chiến trường.[56][57]

Thiết kế

sửa
Góc nhín phía sau xe

Stryker được thiết kế dựa trên phương tiện bọc giáp hạng nhẹ LAV III, vốn dựa trên dòng xe LAV-25.

Dòng xe có nhiều phiên bản với khối động cơ, bộ truyền động, hệ thống thủy lực, bánh xe và hộp truyền động chung. Phiên bản xe chỉ huy M1130 và xe tải thương M1133 có khối điều hòa gắn ở phía sau xe. Xe cứu thương có máy phát điện công suất cao hơn. Một chương trình nâng cấp gần đây bao gồm điều hòa cho tất cả các phiên bản. Sản xuất bắt đầu từ năm 2005 với phiên bản Hệ thống Pháo Di động, gắn một khẩu pháo 105 mm của General Dynamics Land Systems (GDLS) với tên gọi M1128 .[cần dẫn nguồn]

Động cơ và các chi tiết cơ khí

sửa

Stryker dùng động cơ diesel của Caterpillar vốn phổ biến trong các xe tải hạng trung của Lục quân Hoa Kỳ, giúp đơn giản hóa quá trình huấn luyện cho quá trình bảo dưỡng và cho phép sử dụng các linh kiện có sẵn.[cần dẫn nguồn] Do lo ngại về vấn đề lỗi thời, động cơ Caterpillar 3126 gần đây đã được thay thế bởi động cơ Caterpillar C7 và bộ truyền động Allison 3200SP.[20]

Hệ thống khí nén và thủy lực điều khiển hầu hết các chi tiết cơ khí của xe. Ví dụ, một hệ thống khí nén cho phép xe chuyển hệ truyền động giữa chế độ 8×4 và 8×8.[cần dẫn nguồn]

Các nhà thiết kế đã chú ý để đơn giản hóa các khâu bảo dưỡng, dùng các cáp, đường ống và chi tiết cơ khí với cơ chế tháo nhanh. Động cơ và bộ truyền động có thể được tháo và lắp lại chỉ trong 2 giờ đồng hồ, cho phép thực hiện việc sửa chữa bộ tăng áp và các thành phần khác ở ngoài xe.[cần dẫn nguồn]

Chỉ huy, điều khiển và ngắm bắn

sửa
Màn hình điều khiển tháp pháo tự động

Hệ thống máy tính hỗ trợ giúp chiến đầu giảm thiểu khả năng bắn trúng đồng đội. Mỗi phương tiện đều có thể theo dõi phương tiện đồng minh cũng như phát hiện các phương tiện của đối phương. Lái xe và trưởng xe (cũng có thể làm pháo thủ) đều có kính tiềm vọng giúp quan sát ngoài xe mà không phải bộc lộ bản thân ra bên ngoài. Trưởng xe có kính ngắm ảnh nhiệt ngày đem cho phép chỉ huy có thể xem được những gì lái xe thấy,. Trưởng xe có góc nhìn gắn như 360 độ quanh xe.[58]

Stryker được trang bị hệ thống camera tiên tiến cho phép lái xe có tầm nhìn trong nhiều hoàn cảnh. Hệ thống Tăng cường Thị giác cho Lái xe (Driver’s Vision Enhancer -DVE) AN/VAS–5 là một camera nhiệt nhỏ gọn với cảm biến hồng ngoại độ phân giải cao, cung cấp góc nhìn 50 độ. Hệ thống này cho phép lái xe điều hướng hiệu quả trong các môi trường có tầm nhìn thấp như sương mù, khói và bụi bẩn.[59] Trên phiên bản M1296 Dragoon, hệ thống này được thay thế bởi hệ thống DVE-Wide, cung cấp một tầm nhìn ngang với góc 107 độ.[60] Các camera DVE-Wide được gắn trên quanh thân xe, cung cấp góc nhìn 360 độ cho kíp lái, tăng cường nhận thức chiến trường.[61][62] Cả hai hệ thống đều cung cấp hệ thống ổn định hình ảnh để chống lại va chạm và xung chấn, với màn hình cục mịch nhưng đảm bảo độ hiển thị đáng tin cậy trong môi trường chiến thuật.[63] Lục quân Hoa Kỳ camera của hệ thống DVE-Wide với Hệ thống Tăng cường Thị giác Tích hợp (Integrated Visual Augmentation System -IVAS) để cung cấp hình ảnh cho kíp lái và đơn vị bộ binh trên xe cái nhìn toàn cảnh 360 độ khi tất cả các cửa trên xe đều đóng.[64] Binh sĩ có thể luyện tập với xe từ module luyện tập ở trong xe.

General Dynamics Land Systems (GDLS) đang phát triển một Kiến trúc Quản lý Dữ liệu và Năng lượng mới để xử lý các nâng cấp máy tính.[65]

Kính ngắm ảnh nhiệt của Stryker có tầm nhìn lên đến 7.800 ft (2.400 m; 1,48 mi), so với chỉ 330 ft (100 m) trên kính nhìn đêm của binh lính. khả năng này cho phép xe cảnh báo lính trước các mối đe dọa ngoài tầm nhìn của họ.[66]

Khả năng bảo vệ

sửa
Một chiếc Stryker với giáp lồng trang bị gói bảo vệ thân xe toàn diện và lá chắn đạn cho trưởng xe

Thân xe Stryker được chế tạo từ thép có độ cứng cao, cung cấp mức độ bảo vệ cơ bản chống lại đạn 14,5 mm ở vòng cung phía trước và bảo vệ toàn diện chống lại đạn bộ binh 7,62 mm. Ngoài ra, Stryker còn được trang bị giáp gốm dạng bắt vít, giúp bảo vệ toàn diện chống lại đạn xuyên giáp 14,5 mm và các mảnh văng pháo binh từ đạn pháo 155 mm.[67]

Lô giáp gốm đầu tiên gặp nhiều vấn đề về chất lượng khi một số tấm bị phát hiện là thất bại trong bài thử nghiệm với cỡ đạn 14.5 mm. Lục quân xác định rằng vấn đề này là do sự thay đổi của nhà sản xuất IBD Deisenroth Engineering về thành phần cũng như kích cỡ các tấm giáp. Một giải pháp tạm thời là thêm 3 mm giáp thép cho đến khi tìm được một giải pháp triệt để.[68] Vấn đề được giải quyết vào năm 2003 khi DEW Engineering được chọn là nhà cung cấp giáp gốm mới.[69]

Một chiếc Stryker bị lật do thiết bị nổ tự chế ở Iraq. Toàn bộ kíp lái sống sót, nhưng chiêc xe phải được đại tu hoàn toàn trước khi đưa trở lại phục vụ, 2007.[70]

Ngoài giáp gốm được tích hợp vào thân xe, một số lựa chọn khác cũng đi kèm bao gồm giáp lồng[71] và các tấm giáp phản ứng Stryker (SRAT) để chống lại các súng phóng lựu chống tăng và các loại đạn khác, gói bảo vệ khung thân (HPK), giáp váy để chống lại các thiết bị nổ tự chế và tấm chắn đạn để bảo vệ cửa ra của chỉ huy.

Lục quân bắt đầu gửi các tấm giáp phản ứng tới Iraq vào năm 2004, cũng như các tấm cho xe tăng M1 Abram và xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley. Các tấm giáp này phải được chế tạo đặc biệt đối với phương tiện mà các tấm giáp đó dành cho. Quân nổi dậy đối phó với các tấm giáp này bằng cách bắn nhiều quả RPG cùng lúc, nhưng ở tầm gần thì các nhóm này có thể gặp nguy hiểm. Giáp phản ứng có thể bị vô hiệu hóa bằng cách sử dụng vũ khí đầu đạn nổ kép như RPG-29.[72] Vào năm 2005, giáp lồng sẽ cho Stryker được thiết kế và phát triển bởi Phòng Nghiên cứu Lục quân Hoa Kỳ và Trung tâm Thử nghiệm Aberdeen tại Maryland để có thể tăng khả năng chống lại RPG.[73]

Lồng thép được đặt cách 50 cm cách khỏi xe để cung cấp khả năng bảo vệ tốt hơn.[74] Giáp lòng của Stryker có hiệu quả khí chống lại đạn HEAT. Vào tháng 5 năm 2009, General Dynamics và Rafael thắng hợp đồng cung cấp các tấm SRAT để thay thế giáp lồng trên Stryker. Trọng lượng của hai hệ thống giáp này là tương đương, nhưng giáp phản ứng đem lại sự ổn định và cơ động tốt hơn trong khi sức bảo vệ được đảm bảo về mặt thống kê.[75]

Stryker có hệ thống chữa cháy tự động với các cảm biến ở động cơ và khoang chở lính có thể kích hoạt một hoặc nhiều chai chữa cháy chứa halon, vốn cũng có thể được kích hoạt bởi lái xe và được gắn ngoài thừng nhiên liệu. Xe cũng trang bị hệ thống bảo vệ sinh hóa xạ để giữ khoang chở lính kín khí và có áp suất dương.[cần dẫn nguồn]

Báo cáo từ các quân nhân cho thấy Stryker có sức chống chịu trước các vật liệu nổ tự chế tốt hơn các phương tiện hạng nhẹ khác.[76][77]

Vào mùa xuân năm 2016, một trung đoàn Stryker được triển khai tới châu Âu với hệ thống ngụy trang di động của Saab, có thể thay đổi ngoại hình để có thể hòa lẫn và môi trường và bao gồm các thiết bị để cải thiện tính hiệu nhiệt trước các cảm biến nhiệt bước sóng dài và trung, các cảm biến hồng ngoại bước sóng cận và ngắn và radar. Các cuộc thử nghiệm tăng cường sẽ được Lục quân thực hiện để có thể trang bị chính thức loại ngụy trang này qua Chương trình Mua sắm Chính thức.[78]

Vào năm 2016, hệ thống bảo vệ chủ động Iron Curtain của Artis LLC được chọn để tích hợp vào hệ thống của Stryker như một hệ thống chuyển tiếp trong khi Lục quân phát triển hệ thống Hệ thống Bảo vệ Chủ động dạng Module (Modular Active Protection System - MAPS). Iron Curtain khác với các hệ thống phòng ngữ chủ động khác bởi nó đánh chặn mối đe dọa chỉ cách xa vài inch với phương tiện, hơn là đánh chặn cách xa vài mét.[79] Vào tháng 8 năm 2018, Lục quân quyết định ngừng đánh giá Iron Curtain đối với Stryker do vấn đề phát triển của hệ thống.[80]

Vũ khí

sửa
Một trạm vũ khí điều khiển từ xa Protector RWS với súng máy hạng nặng M2 trên mẫu xe thiết giáp chở quân M1126

Ngoại trừ một số phiên bản chuyên biệt, vũ khí chính của Stryker là một trạm vũ khí điều khiển từ xa Protector M151 trang bị súng máy M2 cỡ nòng 12.7 mm (.50 in) súng máy M240B cỡ 7.62 mm hoặc súng phóng lựu [[[Mk 19]] cỡ 40 mm. Việc lựa chọn vũ khí được quyết định bởi nhiều yếu tố. Lục quân Hoa Kỳ muốn có một phương tiện có thể nhanh chóng vận chuyển và bảo vệ bộ binh đến chiến trường cũng như di chuyển quanh chiến trường.

Tháng 9 năm 2017, Raytheon đã phóng thử tên lửa Stinger được tích hợp vào Trạm vũ khí Điều khiển Từ xa Thông dụng (CROWS) gắn trên Stryker để đánh chặn các mục tiêu trên không trong một cuộc trình diễn, qua đó biến phương tiện này thành một hệ thống phòng không tầm ngắn. Đến đầu năm 2024, Lục quân đã triển khai ba tiểu đoàn Stryker được trang bị Stinger.[81]

Táng 8 năm 2018, 86 xe Stryker bắt đầu được biên chế với tháp CROWS được cải tiến để có thể lắp ống phónga FGM-148 Javelin, cho phép phương tiện khai hỏa loại vũ khí này thay vì phải để binh sĩ xuống xe sử dụng.[82]

Pháo 30 mm

sửa
Xe thiết giáp chở bộ binh Dragoon (ICVD))

Trong khi Stryker MGS mang lại hỏa lực mạnh cho các lữ đoàn hạng trung, mẫu xe chở bộ binh cơ bản lại chỉ được trang bị vũ khí hạng nhẹ. Các quan chức chương trình Stryker đã theo đuổi việc lắp pháo 30 mm lên trạm vũ khí điều khiển từ xa của ICV. Khi số lượng xe MGS trong mỗi lữ đoàn bị cắt giảm, từng xe ICV cần được tăng cường hỏa lực. Khẩu pháo này sẽ đem lại sức mạnh hỏa lực lớn hơn mà không cần bổ sung tháp pháo. Kế hoạch là mua và thử nghiệm một bộ pháo 30 mm cấp đại đội, sau đó xác định liệu chúng nên được trang bị cho mọi xe Stryker hay chỉ một xe cho mỗi đại đội.[83]

Lục quân dự kiến thử nghiệm các pháo 30 mm ổn định vào đầu năm 2014, trong đó có Trạm vũ khí điều khiển từ xa cỡ trung bình (RWS) của Kongsberg Protech Systems. Kongsberg, hãng sản xuất M151 RWS cho Stryker, đã hợp tác với nhà sản xuất Stryker là General Dynamics để phát triển MCRWS vào năm 2008. MCRWS không phải là một tháp pháo thực thụ, vốn sẽ chiếm diện tích vào khoang kíp lái và chiếm không gian bên trong. Hệ thống này có thể được nạp đạn từ bên trong xe, nhưng sẽ loại bỏ một trong bốn cửa nóc.[84]

Pháo tự động được cấp đạn bằng hai hộp tiếp đạn chứa đạn xuyên giáp và đạn nổ mạnh. Mỗi hộp chứa 78 viên. Ngoài ra, còn có 264 viên được lưu trữ trong thân xe.[85] Các cuộc bắn thử pháo 30 mm trên hệ thống Kongsberg MCRWS đã được thực hiện trên một xe Stryker vào tháng 2 năm 2014. Khẩu pháo cho thấy khả năng sát thương và độ chính xác tăng lên so với súng máy tiêu chuẩn 0,50 inch (12,7 mm), ở cự ly từ 600 đến 1.550 mét (660 đến 1.700 yd). Bốn viên trong loạt bắn năm viên đã trúng mục tiêu.[86]

Sau các cuộc thử nghiệm so sánh hệ thống Kongsberg MCRWS gắn trên xe Stryker, tháng 4 năm 2015, Lục quân Hoa Kỳ đã phê duyệt việc trang bị pháo 30 mm cho 81 xe Stryker của Trung đoàn Kỵ binh số 2 sau khi đơn vị này yêu cầu nâng cấp. Các đánh giá về hiệu quả của những tháp pháo mới này trong các đại đội Stryker đã cung cấp cơ sở cho các quyết định nâng cấp thêm nhiều xe Stryker trong chín Lữ đoàn Stryker.[87][88] Tháp pháo điều khiển từ xa đòi hỏi phải chỉnh sửa nóc thân xe và làm tăng thêm hai tấn trọng lượng[89] , cùng với hệ thống treo nâng cấp và lốp rộng hơn.[90] Việc trang bị những xe Stryker đầu tiên với pháo Mk44 Bushmaster II được dự kiến diễn ra trong hai năm sau đó, theo tuyên bố vào năm 2015.[91]

M1296 khai hỏa đạn Mk 310 ABM (Airburst Munition - Đạn nổ trên không

Khẩu pháo có thể giao chiến với xe bọc thép hạng nhẹ ở cự ly tới 3.000 mét (1,9 mi).[90]có khả năng bắn đạn nổ trên không, phát nổ phía trên mục tiêu để tấn công binh sĩ đối phương ẩn sau vật cản[92], đồng thời có thể phòng thủ trước máy bay không người lái.[93] háp pháo Kongsberg và biến thể Orbital ATK XM813 của pháo Mk44 Bushmaster được chính thức lựa chọn vào tháng 12 năm 2015.[94] Sau đó, Kongsberg đổi tên hệ thống tháp pháo này thành RT40 (Remote Turret).[95] Xe Stryker nâng cấp đầu tiên, được định danh XM1296 "Dragoon", được bàn giao để thử nghiệm vào tháng 10 năm 2016, với kế hoạch bắt đầu biên chế vào tháng 5 năm 2018.[96] Mẫu xe Infantry Carrier Vehicle – Dragoon (ICVD) đầu tiên được bàn giao cho Trung đoàn Kỵ binh số 2 tại Đức vào tháng 12 năm 2017.[97]

Tháng 4 năm 2019, Lục quân quyết định bổ sung vũ khí pháo cho các xe Stryker DVH ICVVA1 cho ba lữ đoàn. Lữ đoàn đầu tiên dự kiến được trang bị vào năm 2022.[98] Tháng 6 năm 2021, Lục quân chọn Oshkosh Defense cung cấp Hệ thống vũ khí cỡ trung bình (MCWS). Liên danh GDLS/Kongsberg trước đó, vốn đã cung cấp tháp pháo cho Trung đoàn Kỵ binh số 2, cũng tham gia cuộc cạnh tranh mở hoàn toàn nhưng không được chọn để cung cấp thêm.[99][100][101] Hợp đồng được trao vào tháng 6 có giá trị lên tới 942 triệu USD trong sáu năm. Tính đến ngày trao hợp đồng, Lục quân đã phê duyệt kế hoạch trang bị cho ba lữ đoàn, mỗi lữ đoàn 83 Hệ thống vũ khí cỡ trung bình (MCWS). Hợp đồng bao gồm số lượng phương tiện tương đương tối đa sáu lữ đoàn nếu quân chủng quyết định triển khai theo hướng đó.[102]

Đơn hàng ban đầu bao gồm 91 xe với giá trị khoảng 130 triệu USD. Lục quân sẽ cung cấp cho liên doanh do Oshkosh dẫn đầu các xe và pháo XM813 để tích hợp. Tháng 8 năm 2021, Oshkosh nhận thêm 99 triệu USD để sửa đổi thêm 83 xe, nâng tổng số xe theo hợp đồng lên 174 chiếc.[102] Oshkosh cung cấp một tháp pháo dựa trên dòng tháp pháo Samson của Rafael nhưng được tùy chỉnh theo yêu cầu của Lục quân.[102]

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, Northrop Grumman Defense Systems được trao hợp đồng sản xuất trị giá 78,5 triệu USD cho đạn XM1182 High Explosive Airburst with Tracer (HEAB-T- Đạn vạch đường nổ mạnh trên không), được thiết kế cho Stryker ICVVA1-30mm. Được phát triển cho hệ thống vũ khí XM813, XM1182 đạt Milestone B vào tháng 3 năm 2020 và Milestone C vào năm 2023, sau một tiến độ phát triển đầy tham vọng. Loại đạn tiên tiến này có chức năng đa chế độ, bao gồm nổ trên không (AB) để tấn công sinh lực ngoài trời hoặc trong vị trí khuất; nổ chạm (PD) để tiêu diệt phương tiện không bọc giáp; nổ chạm trễ (PDD) để xuyên qua công trình đô thị hoặc phương tiện trước khi phát nổ; và tự hủy (SD) nhằm giảm nguy cơ bom đạn chưa nổ. Ngoài ra, XM1182 HEAB-T còn có đầu đạn tiên tiến với mức độ phân mảnh tăng cường, tạo vùng sát thương lớn hơn và cải thiện khả năng xuyên phá các công trình đô thị. Bổ trợ cho XM1182, đạn XM1170 Armor Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot with Tracer (APFSDS-T- Đạn vạch đường xuyên giáp vượt tốc có guốc) nâng cao năng lực của Stryker với khả năng xuyên giáp tốt hơn ở cự ly xa, sử dụng lõi xuyên uranium nghèo (DU) thay cho lõi xuyên Tungsten-Nickel-Cobalt trước đây. Cả hai loại đạn đều là những nâng cấp quan trọng cho các Lữ đoàn tác chiến Stryker của Lục quân Hoa K[103][104]

Cơ động

sửa

Chiến lược và tác chiến

sửa
Một xe Stryker được dỡ khỏi C-130

Một trong những mục tiêu then chốt được nêu trong kế hoạch chuyển đổi của Lục quân là khả năng triển khai một lữ đoàn đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong vòng 96 giờ, một sư đoàn trong 120 giờ và năm sư đoàn trong 30 ngày. Các yêu cầu về cơ động tác chiến quy định rằng phương tiện phải có thể được vận chuyển bằng máy bay C-130 và có thể lăn bánh khỏi máy bay với kíp lái sẵn sàng chiến đấu.[6]

Khả năng phù hợp của Stryker với vận tải bằng C-130 đã dẫn đến những chỉ trích rằng tầm bay của máy bay có thể không đáp ứng mục tiêu 1.000 dặm. Tầm bay của máy bay phụ thuộc vào nhiều biến số như biến thể C-130 và điều kiện tại sân bay xuất phát.[105] Trong một cuộc trình diễn được thực hiện vào tháng 4 năm 2003, một đại đội bộ binh Stryker với 21 xe Stryker đã được vận chuyển bằng các máy bay C-130 đến một sân bay khác cách 70 dặm.[105] Điều này chứng minh rằng phương tiện có thể được vận chuyển bằng C-130, nhưng không giải quyết được những lo ngại liên quan đến tầm bay và điều kiện sân bay xuất phát. Khi được trang bị giáp lồng, Stryker quá lớn để vừa với C-130, nhưng khả năng bảo vệ trước RPG không phải là yêu cầu đối với vận tải bằng C-130. Máy bay Airbus A400M Atlas đã được thử nghiệm khả năng tương thích với Stryker vào mùa thu năm 2015.[106]

Stryker quá nặng, từ 19 đến 26 tấn tùy theo biến thể và trang bị bổ sung, nên không thể được cẩu bởi các trực thăng hiện hành.

Tháng 8 năm 2004, các cuộc thử nghiệm được tiến hành để xác định liệu Stryker MGS có khả năng thả dù hay không. Quá trình thử nghiệm bắt đầu bằng một loạt thử nghiệm thả rơi từ độ cao 12 foot, tiếp đó Không quân Hoa Kỳ đã thả dù thành công một xe Stryker Engineering Support Vehicle (mẫu Stryker dành cho công binh kỹ thuật) được gia tăng trọng lượng từ máy bay C-17.[cần dẫn nguồn] Mặc dù cuộc thử nghiệm này thành công, không có biến thể Stryker nào được chứng nhận thả dù. Tính đến năm 2013, công việc trong lĩnh vực này vẫn tiếp tục, với năng lực này được giả định trong cuộc tập trận Unified Quest.[107]

Chiến thuật

sửa

Stryker có thể điều chỉnh áp suất trong cả tám lốp để phù hợp với điều kiện địa hình: đường cao tốc, địa hình việt dã, bùn/cát/tuyết và tình huống khẩn cấp. Hệ thống sẽ cảnh báo người lái nếu xe vượt quá tốc độ khuyến nghị đối với áp suất lốp hiện tại, sau đó tự động bơm lốp lên mức áp suất cao hơn kế tiếp. Hệ thống cũng có thể cảnh báo người lái khi lốp bị xẹp. Stryker được trang bị các miếng chèn lốp chạy khi thủng, đồng thời đóng vai trò khóa mép lốp, cho phép xe di chuyển ở tốc độ giảm trong vài dặm trước khi lốp hư hỏng hoàn toàn[cần dẫn nguồn]

Binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ và Lục quân Ấn Độ cùng một xe Stryker IFV trong một cuộc huấn luyện song phương

Một số chỉ trích đối với Stryker tiếp tục kéo dài cuộc tranh luận đã tồn tại hàng thập kỷ về việc xe bánh xích hay xe bánh lốp hiệu quả hơn.[108] Bánh xích truyền thống có khả năng cơ động ngoài đường tốt hơn, tải trọng lớn hơn, có thể xoay xe tại chỗ và chống chịu sát thương chiến đấu tốt hơn. Xe bánh lốp dễ bảo trì hơn và có tốc độ trên đường cao hơn. Lục quân Hoa Kỳ đã chọn Stryker thay vì xe bánh xích nhờ những ưu điểm này.[109]

guy cơ lật xe của Stryker cao hơn so với các phương tiện vận tải khác do trọng tâm cao hơn. Tuy nhiên, khoảng sáng gầm lớn của Stryker có khả năng làm giảm thiệt hại do mìnthiết bị nổ tự chế (IED) gây ra cho xe.[110]

Dù không có khả năng lội nước kiểu đổ bộ, Stryker có các gioăng kín nước ở cửa chiến đấu, cho phép xe lội nước đến độ sâu ngang đỉnh bánh xe.[cần dẫn nguồn]

Chi phí

sửa

Đơn giá mua các xe Stryker ICV ban đầu, không bao gồm trang bị bổ sung như giáp lồng, là 3 triệu USD vào tháng 4 năm 2002.[cần dẫn nguồn] Đến tháng 5 năm 2003, chi phí sản xuất thông thường cho mỗi xe là 1,42 triệu USD.[111] háng 2 năm 2012, chi phí đã tăng lên 4,9 triệu USD.[2]

Năm 2013, các báo cáo truyền thông cho biết Văn phòng Quản lý Dự án Stryker đã đặt mua gần 900 triệu USD phụ tùng không cần thiết hoặc đã lỗi thời do không kiểm soát được hàng tồn kho trong thời kỳ chiến tranh chống khủng bố.[112][113]

Nhiệm vụ

sửa
Các binh sĩ thuộc Trung đoàn Bộ binh 1-23 triển khai từ cửa dốc sau của một xe Stryker, năm 2005

Một Lữ đoàn Stryker tiêu chuẩn thường bao gồm: 130 xe chở bộ binh; 9 xe tên lửa chống tăng dẫn đường; 27 xe sơ tán y tế; 12 xe công binh tiểu đội; 32 xe chỉ huy; 36 xe cối tự hành 120 mm; 56 xe trinh sát; 13 xe hỗ trợ hỏa lực; 3 xe trinh sát NBC; và 12 hệ thống pháo cơ động 105 mm.[39]

Dòng xe Stryker đảm nhiệm một vai trò trong Lục quân Hoa Kỳ không hoàn toàn là hạng nặng cũng không hoàn toàn là hạng nhẹ, mà là nỗ lực tạo ra một lực lượng có thể nhanh chóng đưa bộ binh đến chiến trường trong điều kiện tương đối an toàn. Các lữ đoàn được chuyển đổi sang Stryker chủ yếu trước đây là lực lượng hạng nhẹ, hoặc trong trường hợp Trung đoàn Kỵ binh số 2, là các đơn vị trinh sát kỵ binh không bọc giáp dựa trên khung gầm Humvee. Đối với các đơn vị này, việc bổ sung Stryker đã tăng sức mạnh chiến đấu bằng cách cung cấp khả năng bảo vệ bằng giáp, một hệ thống vũ khí gắn trên xe để hỗ trợ từng tiểu đội xuống xe chiến đấu, cùng tốc độ và tầm hoạt động để thực hiện nhiệm vụ ở xa căn cứ tác chiến.[cần dẫn nguồn]

Các đơn vị Stryker dường như đặc biệt hiệu quả trong khu vực đô thị, nơi các phương tiện có thể thiết lập các vị trí an ninh ban đầu gần một tòa nhà và cho tiểu đội xuống xe ngay trước cửa.[cần dẫn nguồn]

Stryker dựa vào tốc độ và hệ thống thông tin liên lạc để phòng vệ trước phần lớn các hệ thống vũ khí hạng nặng. Hầu hết các biến thể Stryker không được thiết kế để giao chiến với các đơn vị bọc thép hạng nặng, mà dựa vào liên lạc và các đơn vị khác để kiểm soát những mối đe dọa nằm ngoài phân loại của nó. Một biến thể được trang bị tên lửa chống tăng.[cần dẫn nguồn]

Các lữ đoàn được trang bị Stryker được thiết kế để có khả năng cơ động chiến lược, tức là có thể được triển khai nhanh chóng trên khoảng cách xa. Vì vậy, Stryker được thiết kế có chủ ý với mức độ bảo vệ thấp hơn so với các xe bánh xích như M2 Bradley, nhưng đổi lại có yêu cầu hậu cần thấp hơn nhiều.[cần dẫn nguồn]

Mặc dù Stryker được thiết kế để triển khai nhanh và không được bọc giáp hạng nặng, một cuộc diễn tập huấn luyện vào tháng 1 năm 2014 đã chứng minh rằng trong một số hoàn cảnh, một lữ đoàn Stryker với các phương tiện và bộ binh sử dụng tên lửa chống tăng có thể giao chiến thành công với một lực lượng địch thông thường gồm xe tăng, xe bọc thép và trực thăng.[114][115]

Lịch sử phục vụ

sửa

Triển khai

sửa
Một xe M1126 Stryker ICV tuần tra gần Mosul, Iraq, năm 2005
  • Chiến tranh Iraq, 2003–2011:
    • Các lữ đoàn Stryker đầu tiên được triển khai tới Iraq vào tháng 10 năm 2003. Lữ đoàn 3, Sư đoàn Bộ binh số 2 từ Fort Lewis là đơn vị đầu tiên tiếp nhận và triển khai xe Stryker vào chiến đấu tại Iraq, từ tháng 11 năm 2003 đến tháng 11 năm 2004.
    • Lữ đoàn 3 được thay thế bởi Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh số 25 (SBCT). Lữ đoàn 1 phục vụ tại Iraq từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 10 năm 2005. Các đơn vị thuộc lữ đoàn này đã tham gia Trận Mosul năm 2004 và chịu trách nhiệm bảo đảm cho các cuộc bầu cử thành công đầu tiên vào tháng 1 năm 2005. Lữ đoàn được trao Huân chương Đơn vị Dũng cảm vì thời gian phục vụ tại Iraq.
    • Lữ đoàn Tác chiến Stryker 172 từ Fort Wainwright ở Fairbanks, Alaska bắt đầu đợt triển khai đầu tiên vào tháng 8 năm 2005, dự kiến kéo dài đến mùa hè năm 2006. Sau đó, thời gian triển khai của đơn vị được gia hạn thêm tối đa bốn tháng và được điều chuyển tới Baghdad. Lữ đoàn được trao Huân chương Đơn vị Dũng cảm vì thời gian phục vụ tại Iraq.
    • Lữ đoàn 3, Sư đoàn Bộ binh số 2 tái triển khai tới Iraq vào cuối mùa xuân năm 2006 và trở về nước vào tháng 9 năm 2007. Giống như các lữ đoàn chị em, đơn vị này cũng được trao Huân chương Đơn vị Dũng cảm vì các hoạt động tại Baqubah, Iraq.
    • Trong khuôn khổ một đợt điều chuyển ba bên, sau khi tái triển khai từ Iraq, Lữ đoàn Stryker số 1, Sư đoàn Bộ binh số 25 và Trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp số 2 đều cuốn cờ đơn vị. Lữ đoàn 1 SBCT, Sư đoàn 25 Bộ binh trước đây được tái định danh thành Trung đoàn Kỵ binh Stryker số 2 mới tại Vilseck, Đức; còn Trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp số 2 trước đây được tái định danh thành Lữ đoàn Tác chiến Stryker số 4 mới, Sư đoàn Bộ binh số 2 tại Fort Lewis, Washington. Cũng trong cùng thời gian đó, sau khi tái triển khai từ Iraq, Lữ đoàn Tác chiến Stryker 172 bị giải thể và được tái lập thành Lữ đoàn Tác chiến Stryker số 1, Sư đoàn Bộ binh số 25 tại Fort Wainwright, Alaska.
    • Tháng 4 năm 2007, Lữ đoàn 4, Sư đoàn Bộ binh số 2 được triển khai trong khuôn khổ đợt tăng quân tại Iraq. Đợt triển khai này đánh dấu lần đầu tiên Hệ thống pháo cơ động Stryker được đưa vào Iraq. Stryker MGS ban đầu được triển khai cùng 5 chuyên gia bảo trì chuyên trách từ General Dynamics Land Systems. Họ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và bảo trì cho đợt triển khai ban đầu của hệ thống. Nhóm 5 kỹ thuật viên này đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ hệ thống và huấn luyện binh sĩ. Một nhóm kỹ sư cũng được cử đến để hỗ trợ các hoạt động của MGS, nhưng chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong thành công cuối cùng của hệ thống vũ khí. Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Bộ binh số 9 (MANCHU) lần đầu tiên triển khai hệ thống Land Warrior trong chiến đấu.
    • Tháng 8 năm 2007, Trung đoàn Kỵ binh số 2 được triển khai tới Baghdad trong một đợt tiển khai kéo dài 15 tháng, thay thế Lữ đoàn 3, Sư đoàn Bộ binh số 2.
    • Tháng 12 năm 2007, Lữ đoàn 2, Sư đoàn Bộ binh số 25 được triển khai tới Iraq.
    • Tháng 9 năm 2008, Lữ đoàn Bộ binh 1-25 đóng tại Fort Wainwright, Alaska được triển khai tới Iraq.
Stryker với bộ binh tại Saab Al Bour, Iraq, năm 2008
    • Tháng 1 năm 2009, Lữ đoàn Tác chiến Stryker 56, Sư đoàn Bộ binh 28, thuộc Vệ binh Quốc gia Lục quân Pennsylvania, được triển khai tới Iraq. Lữ đoàn 56 SBCT là đơn vị Vệ binh Quốc gia đầu tiên trong Lục quân Hoa Kỳ được trang bị Stryker.
    • Tháng 8 năm 2009, Lữ đoàn 3, Sư đoàn Bộ binh số 2 lại được triển khai tới Iraq trong đợt công tác thứ ba.
    • Tháng 9 năm 2009, Lữ đoàn 4, Sư đoàn Bộ binh số 2 được triển khai tới Iraq trong đợt công tác thứ ba. Lữ đoàn đã thực hiện “Cuộc tuần tra cuối cùng” rời khỏi Iraq, di chuyển từ Baghdad đến Kuwait, tượng trưng cho việc rút “lữ đoàn chiến đấu cuối cùng” và kết thúc Chiến dịch Iraq Tự do. Lữ đoàn được trao Bằng khen Đơn vị Xuất sắc vì thời gian phục vụ tại Iraq.
    • Tháng 7 năm 2010, Lữ đoàn 2, Sư đoàn Bộ binh số 25 một lần nữa được triển khai tới Iraq, thay thế Lữ đoàn 3, Sư đoàn Bộ binh số 2. Lữ đoàn 2 trở thành lữ đoàn Stryker “Cố vấn và Hỗ trợ” đầu tiên.
Binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ dỡ hàng viện trợ nhân đạo từ các xe Stryker tại thị trấn Rajan Kala, Afghanistan, năm 2009
  • Chiến tranh Afghanistan , 2001–2021:
    • TLữ đoàn 5, Sư đoàn Bộ binh số 2 là đơn vị Stryker đầu tiên được điều tới Afghanistan, triển khai vào mùa hè năm 2009 trong khuôn khổ đợt tăng quân. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Bộ binh 17 của lữ đoàn này chịu tổn thất nặng nề nhất trong số các tiểu đoàn Stryker tính đến thời điểm đó[116] Tổn thất của Lữ đoàn Stryker 5 trong đợt triển khai kéo dài một năm là 37 người thiệt mạng và 238 người bị thương.[117]
    • Tháng 6 năm 2010, Trung đoàn Kỵ binh Stryker số 2 được triển khai tới Afghanistan, thay thế Lữ đoàn 5, Sư đoàn Bộ binh số 2.
    • Tháng 4 năm 2011, Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh số 25 được triển khai tới Afghanistan để thay thế Trung đoàn Kỵ binh Stryker số 2.
    • Tháng 11 năm 2012, Lữ đoàn 4, Sư đoàn Bộ binh số 2 được triển khai tới Afghanistan để thay thế Lữ đoàn Tác chiến Stryker 3-2.
  • Can thiệp quân sự chống lại ISILL, 2014–nay:
    • Tháng 3 năm 2017, các xe Stryker được nhìn thấy do lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ vận hành gần thị trấn Manbij ở đông bắc Syria.[118]
  • Chiến tranh Nga-Ukraina, 2022–nay:
    • Tháng 1 năm 2023, một gói viện trợ dành cho Ukraine bao gồm những xe Stryker đầu tiên được gửi tới nước này, gồm 90 xe cùng 20 bộ con lăn phá mìn.[119] Chúng lần đầu đến Ukraine vào tháng 3 và bắt đầu được sử dụng vào tháng 8 tại tỉnh Zaporizhzhia bởi Lữ đoàn Đổ bộ Đường không 82 trong cuộc phản công của Ukraine năm 2023.[120][121]
    • Ngày 21 tháng 9 năm 2023, các xe Stryker của Ukraine lần đầu tiên hoạt động trên Tuyến Surovikin, gần Verbove, tỉnh Zaporizhzhia.[122]
    • Theo blog Oryx, tính đến ngày 30 tháng 4 năm 2025, ít nhất 44 xe M1126 Stryker đã bị phá hủy, 5 xe bị hư hại, 7 xe bị hư hại rồi bị bỏ lại và 7 xe bị thu giữ.[123]

Báo cáo thực địa

sửa

Do được sử dụng trong Chiến tranh Iraq 2003–2011, đã có nhiều báo cáo phản hồi về hiệu năng của Stryker.[124][125] Các binh sĩ và sĩ quan sử dụng Stryker bảo vệ quan điểm rằng đây là những phương tiện rất hiệu quả.[126] Một bài viết năm 2005 của Washington Post cho biết "các chỉ huy, binh sĩ và thợ máy sử dụng xe Stryker hằng ngày tại một trong những khu vực nguy hiểm nhất Iraq đều nhất trí khen ngợi phương tiện này. Những khiếm khuyết được nêu trong báo cáo hoặc là sai, hoặc tương đối nhỏ và hầu như không ảnh hưởng đến hiệu quả của Stryker."[127]

Trong cùng bài viết, Đại tá Robert B. Brown, chỉ huy Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh số 25 (Lữ đoàn Tác chiến Stryker), cho biết các xe Stryker đã cứu mạng ít nhất 100 binh sĩ được triển khai ở miền bắc Iraq.[127] Bài viết cũng nêu rằng giáp lồng lắp bổ sung là biện pháp bảo vệ đạn đạo hiệu quả, vốn là nhược điểm chính được các nhà phê bình nêu ra vào năm 2009. Một báo cáo năm 2003 của GAO gửi Quốc hội cho biết trọng lượng bổ sung của giáp lồng gây hạn chế khả năng cơ động trong điều kiện ẩm ướt do những thiếu sót trong hệ thống treo của xe.[128]

Các báo cáo từ quân nhân và giới phân tích cho thấy Stryker vượt trội hơn các xe quân sự hạng nhẹ khác của Lục quân Hoa Kỳ về khả năng sống sót trước IED, tức thiết bị nổ tự chế.[129][130] Một số binh sĩ từng gọi Stryker một cách không chính thức là "quan tài Kevlar".[131]

Tổ chức phi đảng phái Project on Government Oversight đã nhận được những đánh giá tích cực ngoài dự kiến khi trao đổi với các binh sĩ từng phục vụ trên Stryker: "Stryker thật tuyệt vời. Nó có khả năng cơ động đáng kinh ngạc, tốc độ đáng kinh ngạc..." "Chúng tôi đã bị tấn công bởi 84 xe bom tự sát VBIED... phần lớn binh sĩ đều thoát ra mà thậm chí không bị trầy xước. Điều đó thật sự đáng kinh ngạc. Nếu tôi ở trên bất kỳ loại xe nào khác, tôi hẳn đã gặp rắc rối lớn," Đại tá Robert Brown, chỉ huy Lữ đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh số 25, cho biết.[132]

Thiếu tá Doug Baker, sĩ quan tác chiến của Tiểu đoàn 5, Trung đoàn Bộ binh 20 thuộc Lữ đoàn 3/Sư đoàn 2, nói: "Khi anh lăn bánh ra khỏi cổng, anh khá tự tin rằng chiếc xe sẽ bảo vệ mình... Tôi biết Bradley có thể làm được gì. Đó là một phương tiện tuyệt vời, nhưng ở Iraq thì ngày nào tôi cũng sẽ chọn Stryker thay vì nó."[132] Các thành viên kíp xe của Hệ thống pháo cơ động Stryker xác nhận khả năng "liền mạch" của nó trong việc lấp khoảng trống cơ động cao giữa xe tăng chiến đấu chủ lực và xe chở quân bọc thép.[133]

Tính đến năm 2005, xe Stryker đã ghi nhận hơn 27 triệu dặm chiến đấu, với tỷ lệ sẵn sàng hoạt động trên 96%.[132]

Quốc gia vận hành

sửa
Các quốc gia vận hành Stryker
  Hiện tại
  Tương lai
  Tiềm năng
 Bulgaria
Ngày 9 tháng 11 năm 2023, Quốc hội Bulgaria đã phê chuẩn việc mua 183 xe Stryker và 15 xe tải HEMTT. Những xe Stryker đầu tiên được bàn giao vào tháng 2 năm 2026.[134] Đơn đặt hàng bao gồm:[135][136][137][138][139]
 North Macedonia
Việc bán 54 xe Stryker đã được Hoa Kỳ phê duyệt vào năm 2021 với tổng chi phí 210 triệu USD, trong đó 30 triệu USD là viện trợ.[140] Gói này bao gồm súng máy M2A1 cỡ 0,50, súng phóng lựu khói M6 và các phụ tùng liên quan, radio Harris, Trạm vũ khí điều khiển từ xa thông dụng (CROWS), bộ thu GPS tiên tiến dùng trong quốc phòng, thiết bị tăng cường tầm nhìn AN/VAS-5 cho lái xe, cùng các bộ phận và thành phần khác. Năm 2024, đơn đặt hàng được giảm xuống còn 42 xe Stryker.[141] Tính đến tháng 3 năm 2026, 17 xe chở bộ binh Stryker đã được bàn giao. 25 xe Stryker còn lại dự kiến sẽ đến trong mùa hè năm 2026.[142]
 Thailand
Tổng cộng 147 xe đang phục vụ tính đến năm 2026.[cần dẫn nguồn]
 Ukraine
Hơn 400 xe Stryker,[143] trong đó có 20 xe công binh tiểu đội M1132, đã được bàn giao từ tháng 3 năm 2023 trở đi.[144][145] Tính đến ngày 8 tháng 8 năm 2025, Oryxblog ghi nhận 67 xe M1126 Stryker và 9 xe công binh M1132 Stryker đã bị phá hủy, hư hại hoặc bị thu giữ.[123]
 United States
Được Lục quân Hoa KỳVệ binh Quốc gia Lục quân sử dụng. Tổng cộng 4.466 xe Stryker đã được bàn giao cho đến khi việc sản xuất kết thúc vào năm 2014.[3] Tính đến năm 2024, có tám lữ đoàn Stryker:
Số lượng tính đến tháng 1 năm 2025:[149]:36
  • 545 xe Stryker RV M1127;
  • 83 xe Stryker Dragoon M1296;
  • 83 xe Stryker MCWS (đang thử nghiệm);
  • 1.162 xe Stryker ICV M1126;
  • 240 xe Stryker CV (CP) M1130;
  • 144 xe Stryker FSV (OP) M1131;
  • 173 xe Stryker MEV (xe cứu thương) M1133;
  • 44 xe M1251A1 Stryker FSV (OP);
  • 131 xe M1254A1 Stryker MEV (xe cứu thương);
  • 108 xe M1255A1 Stryker CV (CP);
  • 521 xe M1256A1 Stryker ICV;
  • 123 xe Stryker ESV M1132;
  • 45 xe M1257A1 Stryker ESV;
  • 234 xe Stryker NBCRV M1135;
  • 102 xe Stryker ATGM M1134;
  • 31 xe M1253A1 Stryker ATGM;
  • 322 xe Stryker MC M1129;
  • 119 xe M1252A1 Stryker MC;
  • Ước tính 120 xe Sgt Stout;
  • 4 xe DE M-SHORAD (đang thử nghiệm)

Quốc gia vận hành trong tương lai

sửa
 Argentina
Lữ đoàn Cơ giới số 10 vận hành 4 xe Stryker M1126 ICV.[cần dẫn nguồn]

Quốc gia vận hành tiềm năng

sửa
 Chile
Stryker là một trong các phương án đang được Lục quân Chile xem xét để thay thế Mowag Piranha I.[150]
 India
Hoa Kỳ được cho là đã đề xuất kế hoạch hợp tác sản xuất xe ICV Stryker với Ấn Độ, và các cuộc đàm phán đang diễn ra để xây dựng một thỏa thuận.[151] Các cuộc thử nghiệm Stryker dự kiến được tiến hành trên nhiều dạng địa hình khác nhau của Ấn Độ. Ấn Độ dự định mua 530 xe cho 10 tiểu đoàn bộ binh cơ giới bánh lốp tiêu chuẩn. Đề xuất này sẽ được đánh giá sau khi phân tích kỹ lưỡng hiệu năng của nền tảng tại Ấn Độ. Nếu thương vụ được triển khai, những xe đầu tiên sẽ được nhập khẩu trực tiếp, trong khi phần còn lại sẽ được đồng sản xuất tại Ấn Độ; đồng thời một số thay đổi cũng sẽ được thực hiện trên nền tảng này để phù hợp với địa hình cao.[152] Tính đến tháng 10 năm 2024, các cuộc thảo luận về việc mua sắm đã bị tạm dừng.[153][154] Ngày 10 tháng 1 năm 2025, các đề xuất thiết lập hoạt động sản xuất Stryker tại Ấn Độ đã được chính phủ Hoa Kỳ phê chuẩn.[155] Mặc dù ban đầu Stryker không đáp ứng nhu cầu của Lục quân Ấn Độ, một biến thể lội nước của phương tiện này dự kiến sẽ được phát triển tính đến tháng 7 năm 2025. Biến thể này có thể được trình diễn trong một cuộc diễn tập quân sự chung trong tương lai giữa hai nước.[156]
 Poland[157][158]

Các đề xuất không thành công

sửa
 Canada
Canada ban đầu đặt mua 66 xe hệ thống pháo di động Stryker vào năm 2003, dự kiến sẽ được bàn giao vào năm 2010. Năm 2006, Lực lượng Canada đã đề nghị chính phủ hủy việc mua sắm MGS. MGS ban đầu được dự kiến sử dụng trong "Đơn vị Hỏa lực Trực tiếp".[159] MGS được kỳ vọng cung cấp năng lực hỏa lực pháo trực tiếp thay thế cho xe tăng Leopard C2 sắp nghỉ hưu.[160] Với việc xe tăng gần đây chứng minh tính hữu dụng tại Iraq và việc Canada vội vã triển khai xe tăng Leopard C2 tới Afghanistan, Canada đã công bố việc mua các xe Leopard 2 dư thừa từ Hà Lan.[161] Dự án MMEV sau đó đã bị hủy, và yêu cầu TUA bị cắt giảm một nửa.
 Israel
Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) đã nhận ba biến thể Stryker để thử nghiệm, trong đó những xe đầu tiên là các xe thuộc giai đoạn sản xuất ban đầu và không có giáp bổ sung.[cần dẫn nguồn] Một bài viết năm 2004 trên The Jerusalem Post dẫn lời một nguồn quân sự giấu tên nói rằng thương vụ này đã "bị chôn vùi hoàn toàn", đồng thời suy đoán rằng Stryker không được chọn do một số thiếu sót. Năm 2008, IDF bắt đầu tiếp nhận các xe chở quân bọc thép hạng nặng Namer do Israel tự thiết kế và sản xuất.[162]
 Lithuania
Năm 2015, Hội đồng Quốc phòng Nhà nước Litva đã chọn xe Boxer IFV do Đức chế tạo thay vì Stryker do Hoa Kỳ sản xuất. Yêu cầu của Litva rằng lô đầu tiên phải được bàn giao vào năm 2017, cùng việc pháo 30 mm của Stryker chưa được thử nghiệm, là những lý do dẫn đến lựa chọn này.[163]

Liên kết ngoài

sửa
Official U.S. Army web pages
  • Stryker Brigade Combat Team Project Management Office
  • 3rd Brigade / 2nd Infantry Division, 5th Brigade / 2nd Infantry Division pages[liên kết hỏng] and "172nd Stryker Brigade Combat Team". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2006.
Other web pages

Tham khảo

sửa
  1. "Products / LAVs". General Dynamics Land Systems. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2018.
  2. 1 2 United States Department of Defense (2012). Program Acquisition Costs By Weapon System (PDF) (bằng tiếng Anh). Office of the Under-Secretary of Defense. tr. 3–6. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  3. 1 2 "Iraq Seeks Up to 30 General Dynamics Stryker Vehicles". Bloomberg.com (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  4. "Army Fact File - Stryker". U.S. Army. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
  5. "Stryker Family of Vehicles" (PDF). U.S. Army. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014.
  6. 1 2 "Stryker". ArmedForces-int.com. ngày 6 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2018.
  7. Captain S. Lucas (ngày 8 tháng 2 năm 2005), Hell on Wheels: The U.S. Army's Stryker Brigade Combat Team (PDF), tr. 1–2, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2012, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010
  8. "U.S. Army Combat Vehicle Plans Careen From Heavy GCV To "Stryker Lite"". LexingtonInstitute.org (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  9. Foss, Christopher F., biên tập (2011). "Reconnaissance Vehicles". Jane's Armour and Artillery 2011–2012 (ấn bản thứ 32). Surrey: Janes Information Group. tr. 219–221. ISBN 978-0-71062-960-9.
  10. 1 2 Myers, Steven Lee (ngày 18 tháng 11 năm 2000). "Army's Armored Vehicles Are Already Behind Schedule". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  11. "National Briefing". The New York Times. ngày 9 tháng 4 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  12. "Army Announces Name For Interim Armored Vehicle". U.S. Army (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 2 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007.
  13. Shanker, Thom (ngày 29 tháng 10 năm 2002). "Army Takes on Critics of an Armored Vehicle". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  14. Shanker, Thom (ngày 22 tháng 5 năm 2003). "New Armored Vehicle on Path to Approval". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  15. 1 2 Smith, R. Jeffrey (ngày 31 tháng 3 năm 2005). "Study Faults Army Vehicle". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  16. 1 2 Schmitt, Eric (ngày 28 tháng 12 năm 2003). "THE STRUGGLE FOR IRAQ: THE MILITARY; Quick-Hitting Brigade Test-Drives a New Army Vehicle in Iraq". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  17. "Suspension test report, MillenWorks" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007.
  18. Osborn, Chris (2011), Army marks 10-year Stryker anniversary, US Department of the Army, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2017, truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017
  19. "U.S. Army Stryker Combat Vehicles to be Equipped with Allegheny Technologies' ATI 500-MIL Armor Steel".[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  20. 1 2 "US Army Outlines Future Improvements for the Stryker". Defense Update (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  21. Brannen, Kate (ngày 3 tháng 3 năm 2010). "U.S. Army 'Moving Rapidly' To Add V-Hull to Strykers". Defense News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  22. Rutherford, Emelie (ngày 4 tháng 3 năm 2010). "Army Weighing Quick Fielding of V-Hull Kits For IED-Prone Strykers". Defense Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  23. "U.S. Army pushes Stryker modification". UPI (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 3 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  24. Đăng ký phát minh {{{country}}} ứng dụng US20110168001, "W-Shaped Hull Patent Application Publication", xuất bản vào [[{{{pubdate}}}]]
  25. "US Army Awards GD $30 M For Stryker Double-V Hull Production". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  26. Tiron, Roxana (ngày 9 tháng 3 năm 2011). "Pentagon Tester Says General Dynamics' New Stryker Needs Fix". Bloomberg News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  27. Ashton, Adam (ngày 24 tháng 3 năm 2012). "JBLM soldiers get experience with new, safer Stryker vehicles". The Olympian (bằng tiếng Anh). Olympia, Washington. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  28. "US Army Moves Ahead with V-Hull Strykers". Defense Industry Daily. ngày 14 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  29. "AUSA 2012: US Army Quantifies Stryker Double-V Hull". Shephard Media. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  30. "Army to field more 'double-V hull' Strykers". Defpro.com (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  31. 1 2 "United States Army plans major Stryker upgrades with ECP Engineering Change Proposal program". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  32. "KONGSBERG Awarded Contract from GDLS Supporting US Army Stryker ECP Program" (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh). Kongsberg.com. ngày 9 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  33. "Army plans radical upgrade of Stryker brigades". Military Times (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  34. "Fourth brigade with enhanced Stryker combat vehicles planned for U.S. Army". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  35. "Justification Book Volume 1 of 1 Procurement of W&TCV, Army" (PDF). tháng 3 năm 2023.
  36. "Army waiting for Hill OK to build upgraded Strykers". Military Times (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  37. "US Army awards contract to General Dynamics to upgrade Strykers to A1 configuration". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  38. "New Army Strategy Sees Future Combat Vehicles As Highly Mobile, Highly Lethal". Army Times (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  39. 1 2 "Army Begins Fielding Upgraded Third-Generation Strykers". National Defense Magazine (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  40. Jr, Sydney J. Freedberg (ngày 23 tháng 4 năm 2021). "Army Fields First Anti-Aircraft Strykers In Just 3 Years". Breaking Defense.
  41. "Interim short-range air defense solution to be Stryker-based". Military Times (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  42. "Interim solution for US Army's Short Range Air Defense to be chosen by end of year". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  43. "US Army's interim short-range air defense solution crystallizes". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  44. "US Army's interim short-range air defense solution crystallizes". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  45. "Army Anti-Aircraft Stryker Can Kill Tanks Too". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  46. "GDLS Gets $1.2B For 144 Army Anti-Aircraft Strykers". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  47. "First short-range air defense systems deploy to Europe". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  48. "Army Fields First Anti-Aircraft Strykers In Just 3 Years". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  49. "Army names the M-SHORAD after Vietnam War Medal of Honor recipient". ngày 15 tháng 6 năm 2024.
  50. Congressional Research Service (ngày 13 tháng 8 năm 2024). "U.S. Army's Maneuver Short-Range Air Defense System" (PDF). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  51. "RTX's Raytheon completes 10 subsystem demonstrations for U.S. Army's Next-Generation Short-Range Interceptor program". United Technologies (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  52. Trevithick, Joseph (ngày 28 tháng 5 năm 2025). "Everything We Learned About Lockheed's QuadStar Missile Aimed At Replacing FIM-92 Stingers". The War Zone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2025.
  53. 1 2 "Army short-range air defense laser prototypes take down drones at Yuma". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  54. "Army advances first laser weapon through Combat Shoot-Off". Army.mil (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  55. "EXCLUSIVE: Strykers with 50-kilowatt lasers in CENTCOM for experiment, Army No. 2 says". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  56. General Dynamics Mission Systems. "Tactical Electronic Warfare System (TEWS)". gdmissionsystems.com. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
  57. "PM EW&C - CPE IEW&S" (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
  58. "TC 7-21 Chapter 6". rdl.train.army.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
  59. Department of Defense (ngày 24 tháng 10 năm 2024). "Notice of Proposed Issuance of Letter of Offer Pursuant to Section 36(b)(1) of the Arms Export Control Act" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
  60. "Driver's Vision Enhancer Wide (DVE Wide)". Leonardo DRS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025.
  61. U.S. Army (2018). "Stryker 30 mm Infantry Carrier Vehicle – Dragoon (ICV-D)" (PDF). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025.
  62. McLeary, Paul (ngày 10 tháng 10 năm 2018). "General Dynamics Upgrades The Upgunned Stryker For The Army". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2025.
  63. U.S. Senate (ngày 5 tháng 9 năm 2023). "CONGRESSIONAL RECORD — SENATE" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
  64. "Soldiers test integrated augmented reality tech with Stryker vehicles". www.army.mil (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2025.
  65. "Stryker Armored Personnel Carrier". defense-update.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2007.
  66. "Stryker Crews in Iraq Rally to Defend Their Rides: Field Report". Popular Mechanics (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  67. Staff Sgt. Marcia Triggs (ngày 9 tháng 3 năm 2002). "Stryker gets new armor, decreases in weight". US Army. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2004.
  68. Ray Rivera; Hal Bernton (ngày 16 tháng 9 năm 2003). "Some Stryker tiles fail under fire Maker rushes to fortify vehicles before deployment". Seattle Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010.
  69. "GDLS-C provides $39.5 Million order to DEW for Stryker Armour" (Thông cáo báo chí). DEW Engineering. ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  70. Bradford, SPC. Lindsey M. (ngày 6 tháng 6 năm 2008), General Lee rides again, US Army, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2009, truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010
  71. "Slat Armour for Stryker". defense-update.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2007.
  72. "Army officials tout success of reactive armor". Army Times (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  73. Rooney, John (tháng 1 năm 2007). "Armor Testing, An Example of T&E for Rapid Acquisitions". ITEA Journal: 4–6. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2021 qua Defense Technical Information Center.
  74. Yap, Chun (tháng 9 năm 2012). The Impact of Armor on the Design, Utilization and Survivability of Ground Vehicles: The History of Armor Development and Use. Naval Postgraduate School (Luận văn). hdl:10945/17482. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018 qua Defense Technical Information Center.
  75. "General Dynamics, Rafael to Replace the Strykers' SLAT Protection Cages with Reactive Armor". Defense Update (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  76. Clay Wilson (ngày 25 tháng 9 năm 2006). "Improvised Explosive Devices (IEDs) in Iraq and Afghanistan: Effects and Countermeasures, Congressional Research Service" (PDF). Library of Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  77. U.S. Army 40th Public Affairs Detachment (ngày 3 tháng 1 năm 2007). "Stryker increases troops' survivability". BlackAnthem Military News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  78. "Four US Army Strykers in Europe get survivability upgrade". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  79. "'Iron Curtain' ready to bring active protection to Stryker". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  80. "Iron Curtain is out as possible active protection system for Stryker". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  81. "US Army's short-range air defense efforts face review board". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  82. "No more exposure: This forward unit is getting an upgrade that lets Strykers fire missiles remotely". Army Times (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  83. "Army Looks to Mount 30mm Cannons on Strykers". Military.com (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  84. "Army to Test Kongsberg's New Gun on Stryker". Defense Tech (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  85. "Strykers Now Armed with Bigger Gun, New Missile for Russian Threat". Military.com (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  86. "Stryker demonstrates potential for increased lethality". Army.mil (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  87. "The 30 Millimeter Solution: Army Upgunning Strykers Vs. Russia". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  88. "US Troops in Europe Request Bigger Guns Amid Tensions With Russia". Military.com (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  89. "Russia Threat Boosts Stryker Upgrade Budget To $371 Million". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  90. 1 2 "GD Parks New Stryker with 30mm Cannon at AUSA". Defense Tech (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  91. "US Army: Strykers Need Bigger Gun to Fight Russia". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  92. "Firepower Upgrade Planned for GDLS Strykers". Military Times (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  93. "Army Explores Anti-Ship Howitzers & Anti-Air Strykers". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  94. "US Army Seeks New Stryker Capability Beyond Bigger Gun". Military Times (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  95. "PROTECTOR RT40". Kongsberg.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026. The RT40 is a fully qualified and fielded turret system selected by the US Army Stryker brigade. The system includes the Bushmaster 30 mm cannon and a linkless ammunition handling system.
  96. "Army receives first Stryker upgraded with 30mm cannon". Army Times (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  97. "2CR Receives the First 30mm Stryker in Europe". DVIDS (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  98. "Army to outfit Double V-Hull Strykers with 30mm firepower". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  99. "US Army chooses winner to build its new Stryker gun system". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  100. "Oshkosh Defense to upgrade US Army Stryker armored vehicles with 30mm weapon station". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  101. "Oshkosh Wins $942M Stryker Upgun Contract, Unseating GDLS". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  102. 1 2 3 "Oshkosh Stryker award". Janes JDW. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2021.
  103. LTC Paul Santamaria (ngày 19 tháng 9 năm 2022). "Future Force Capabilities" (PDF). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025.
  104. "Medium Caliber Product Office awards $78.5M contract for 30mm Airburst Ammunition". www.army.mil (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025.
  105. 1 2 "Fielding of Army's Stryker Vehicles Is Well Under Way, but Expectations for Their Transportability by C-130 Aircraft Need to Be Clarified" (PDF). GAO. tháng 8 năm 2004. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2004.
  106. "RAF A400M stretches legs on US detachment". Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2015.
  107. "War Game Exposes Gaps for U.S. Army". Defense News. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  108. Paul Hornback (March–April 1998). "The Wheel versus Track dilemma" (PDF). Armor: 33–34. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
  109. "GAO Denies protest in choosing the Stryker over the M113 and M8" (PDF). GAO. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2008.
  110. "GDELS briefs on evaluation of the PIRANHA armoured wheeled vehicle system at EUROSATORY 2008" (PDF) (Thông cáo báo chí). General Dynamics European Land Systems. ngày 16 tháng 6 năm 2008. tr. 2. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010.
  111. "GAO Compares Stryker to M113A3" (PDF). GAO. tr. 20. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2008.
  112. Ashton, Adam (ngày 2 tháng 4 năm 2013). "DOD Inspector General finds $900M stockpile of Stryker parts". Stars and Stripes. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013.
  113. "Stryker audit finds muddy repair spending." [liên kết hỏng vĩnh viễn]. The News Tribune, 22 July 2013.
  114. "Stryker crews find ways to defeat armored enemy". Stars and Stripes (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  115. "Stryker crews find ways to defeat armored enemy". The News Tribune (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014.
  116. Bernton, Hal; Youssef, Nancy A. "8 U.S. troops die in Afghanistan, making October worst month". Miami Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  117. "Army Needs More Money To Refit Strykers". DoDBuzz.com (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  118. "US Stryker Combat Vehicles Seen Near Syrian Flashpoint Town". DoDBuzz.com (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  119. "Ukraine Contact Group meeting caps off deluge of new arms pledges, but no German Leopards". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  120. "Ukrainian Stryker Seen In Frontline Video For The First Time". The War Zone (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  121. "Ukraine sends its US-supplied Stryker combat vehicles into battle for the first time in the counteroffensive against Russia, say reports". Business Insider (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  122. HOWARD ALTMAN; THOMAS NEWDICK (ngày 21 tháng 9 năm 2023). "Ukraine Situation Report: Russia's Main Defensive Line Breached". The War Zone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2023.
  123. 1 2 Oryx. "Attack On Europe: Documenting Ukrainian Equipment Losses During The Russian Invasion Of Ukraine". Oryx. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  124. Tell all the Truth but tell it...slat, Project On Government Oversight, ngày 24 tháng 6 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2010, truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010
  125. "M1126 Strykers in Combat: Experiences & Lessons", Defense Industry Daily, ngày 11 tháng 10 năm 2005, lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2015, truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015
  126. Gittler, Juliana (ngày 10 tháng 11 năm 2004), Stryker: Bulky Fighting Vehicle Is Winning Over Once-Skeptical Soldiers, military.com, lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2012, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010
  127. 1 2 Fainaru, Steve (ngày 2 tháng 4 năm 2005). "Soldiers Defend Faulted Strykers". Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
  128. Military Transformation: Army's Evaluation of Stryker and M-113A3 Infantry Carrier Vehicles Provided Sufficient Data for Statutorily Mandated Comparison (PDF), GAO, tháng 5 năm 2003, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015, truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008
  129. Improvised Explosive Devices (IEDs) in Iraq and Afghanistan: Effects and Countermeasures (PDF) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Congressional Research Service. ngày 25 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  130. U.S. Army 40th Public Affairs Detachment (ngày 3 tháng 1 năm 2007). "Stryker increases troops' survivability". BlackAnthem Military News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  131. Carter, Sara A. (ngày 5 tháng 11 năm 2009). "Armored troop carriers called unsafe for duty". Washington Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015.
  132. 1 2 3 M1126 Strykers in Combat: Experiences & Lessons, Defense Industry Daily, 2005, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2017, truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017
  133. Long, Justin (2013), Stryker Mobile Gun System (MGS) Vehicle Review- 5 Things I Love About It, Citizen Soldier Resource Center, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2017, truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017
  134. "Bułgaria odebrała pierwsze Strykery". Konflikty.pl (bằng tiếng Ba Lan). ngày 16 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2026.
  135. Nenov, Stoyan (ngày 9 tháng 11 năm 2023). "Bulgarian parliament okays $1.5 billion purchase of Stryker fighting vehicles from US". Reuters.com (bằng tiếng Anh).
  136. Ангелов, Георги (ngày 10 tháng 1 năm 2024). "Оръдия Bushmaster, ракети Javelin и още броня. С какво ще са въоръжени новите "Страйкър" за армията". Svobodnaevropa.bg (bằng tiếng Bulgaria).
  137. "Bulgaria – Stryker Vehicles". dsca.mil. ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  138. "Ген. Атанас Запрянов: Купуваме 198 машини "Страйкър" от САЩ". www.24chasa.bg (bằng tiếng Bulgaria). ngày 13 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2023.
  139. Lalov, Nikola (ngày 30 tháng 5 năm 2023). "Potential Acquisition of 150 M1296 Stryker Dragoon by Bulgaria". Mediapool.bg (bằng tiếng Bulgaria).
  140. "North Macedonia – Stryker Vehicles | Defense Security Cooperation Agency".
  141. "North Macedonia reduces procurement of Stryker IFVs". Default (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2024.
  142. "North Macedonia shows its new Stryker ICVs". Default (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2026.
  143. U.S. Security Assistance to Ukraine (PDF) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). U.S. Department of Defense. ngày 1 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  144. Oryx. "Answering The Call: Heavy Weaponry Supplied To Ukraine". Oryx. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2023.
  145. "U.S. Security Cooperation with Ukraine".
  146. "Army activates Arctic-focused 11th Airborne Division in Alaska, cuts Strykers". Stars and Stripes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2022.
  147. "1st Infantry Brigade, 11th Airborne Division". 11th Airborne Division. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2024.
  148. Servaes, Alain. "U.S. Army Transforms Washington-Based 81st Stryker Brigade Into New Mobile Combat Team". Army Recognition Group. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
  149. The Military Balance. International Institute for Strategic Studies. 2025. ISBN 978-1-041-04967-8.
  150. García, Nicolás (ngày 25 tháng 8 năm 2021). "El Ejército de Chile conoce las capacidades de una Brigada Stryker del Ejército de EEUU". Infodefensa.com (bằng tiếng Spanish).{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  151. "India, US in 'advanced stage of talks' for combat vehicles". The Times of India. ngày 17 tháng 6 năm 2024. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2024.
  152. Deshpande, Smruti (ngày 5 tháng 7 năm 2024). "India set to carry out trials for US-made Stryker combat vehicles in Ladakh & deserts". ThePrint (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2024.
  153. Pubby, Manu (ngày 16 tháng 10 năm 2024). "India's plan to buy Stryker armoured vehicles hits snag amid diplomatic rift with Canada". The Economic Times. ISSN 0013-0389. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2024.
  154. "India-Canada diplomatic row: Indian Army's plan to buy Ontario-produced Stryker armoured vehicles hits snag". The Times of India. ngày 18 tháng 10 năm 2024. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2024.
  155. Sharma, Ritu (ngày 10 tháng 1 năm 2025). "India To Become 1st "Global Producer" Of Stryker Combat Vehicles; Locally Produce Sonobuoys For Anti-Sub Warfare". The EurAsian Times. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2025.
  156. "LCA Tejas on fast track: GE to supply two F404 engines a month; India plans to buy Javelin missiles, Stryker vehicles, says Def Secy". The Economic Times. ngày 14 tháng 7 năm 2025. ISSN 0013-0389. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  157. "Wojsko Polskie rozważa przyjęcie 250 używanych Strykerów. Szansa na szybkie wzmocnienie czy zagrożenie dla Rosomaka?". portalobronny.se.pl (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
  158. Graf, Jędrzej (ngày 7 tháng 12 năm 2025). "Amerykańskie Strykery a Rosomaki? Ważna deklaracja MON". defence24.pl (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2025.
  159. "A Soldier's Guide to Army Transformation – Building a Direct Fire Unit". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2006.
  160. "Mobile Gun System vs. Leopard tank". cbc.ca. ngày 30 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2003.
  161. Akin, David (ngày 31 tháng 10 năm 2006). "Army might buy surplus tanks from Germans, Swiss". ctv.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2007.
  162. Arieh O'Sullivan (ngày 19 tháng 7 năm 2004). "Stryker APC deal tabled for two years". Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
  163. Pankūnas, Gytis (ngày 11 tháng 12 năm 2015). "Apsisprendimo diena atėjo – Lietuva pasirinko kovos mašinas" [The day of decision has come – Lithuania has chosen combat vehicles]. tv3.lt (bằng tiếng Lithuanian). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2016.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)