Cộng hòa Nam Phi

quốc gia ở Nam Phi
(Đổi hướng từ Nam Phi)

Nam Phi, quốc hiệu là Cộng hòa Nam Phi, là một quốc gia nằm ở mũi phía nam châu Phi, giáp Namibia, Botswana, Zimbabwe, Mozambique, Eswatini, và bao quanh toàn bộ Lesotho. Nam Phi là thành viên Khối Thịnh vượng chung.

Cộng hòa Nam Phi
Tên bản ngữ
Quốc huy Nam Phi
Quốc huy

Tiêu ngữ: "ǃke e: ǀxarra ǁke" (tiếng ǀXam)
"Unity in diversity"

Tổng quan
Thủ đô
Thành phố lớn nhấtJohannesburg[3]
Ngôn ngữ chính thức12 ngôn ngữ[4][5]
Sắc tộc
(2022[6])
Tôn giáo
(2022)[7]
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủCộng hòa đại nghị đơn nhất với tổng thống nắm quyền hành pháp
Cyril Ramaphosa
Paul Mashatile
Thoko Didiza
Refilwe Mtsweni-Tsipane
Mandisa Maya
Lập phápNghị viện
Hội đồng Quốc gia các Tỉnh
Quốc hội
Lịch sử
Độc lập 
31 tháng 5 năm 1910
11 tháng 12 năm 1931
31 tháng 5 năm 1961
4 tháng 2 năm 1997
Địa 
Diện tích  
 Tổng cộng
1.221.037 km2 (hạng 24)
471.443 mi2
 Mặt nước (%)
0,38
Dân số 
 Ước lượng 2024
Tăng 63.015.904[8] (hạng 23)
 Điều tra 2022
Tăng 62.027.503[9] (hạng 23)
50.8/km2 (hạng 169)
131,6/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2025
 Tổng số
Tăng 1,03 nghìn tỷ đô la Mỹ[10] (hạng 33)
Tăng 16.010 đô la Mỹ[10] (hạng 107)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2025
 Tổng số
Tăng 418,05 tỷ đô la Mỹ[10] (hạng 40)
 Bình quân đầu người
Tăng 6.520 đô la Mỹ[10] (hạng 108)
Đơn vị tiền tệRand Nam Phi (ZAR)
Thông tin khác
Gini? (2014)Giảm theo hướng tích cực 63,0[11]
rất cao
HDI? (2023)Tăng 0,741[12]
cao · hạng 106
Múi giờUTC+2 (Giờ chuẩn Nam Phi)
Cách ghi ngày thángShort formats:
Giao thông bêntrái
 điện thoại+27
 ISO 3166ZA
Tên miền Internet.za

Người nhập cư châu Âu bắt đầu tới Nam Phi ngay sau khi Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập một điểm đồn trú sau này trở thành mũi Hảo Vọng năm 1652. Nam Phi có cơ sở hạ tầng khá phát triển giúp trữ lượng tài nguyên khoáng sản phong phú và có giá trị cao tiếp cận tới thị trường phương Tây, đặc biệt trong suốt thế kỷ mười chín, khi cuộc cạnh tranh diễn ra khốc liệt giữa các đối thủ thời Chiến tranh Lạnh. Nam Phi là quốc gia đa sắc tộc, với các cộng đồng người da trắng, người Ấn Độ, và người da màu lớn nhất tại châu Phi. Người da đen Nam Phi, nói chín ngôn ngữ được công nhận chính thức và nhiều thổ ngữ khác, chiếm gần 80% dân số.

Sự xung đột giữa thiểu số da trắng và đa số da đen đóng một vai trò quan trọng trong lịch sửchính trị Nam Phi, lên cực đỉnh thành chế độ apartheid, được Đảng Quốc gia Nam Phi ghi thành hiến pháp năm 1948 (dù sự phân biệt chủng tộc đã tồn tại từ trước đó). Chế độ apartheid bị bãi bỏ vào năm 1990 sau một cuộc xung đột kéo dài và thỉnh thoảng đầy tính bạo lực (gồm cả những biện pháp cấm vận từ cộng đồng thế giới) của cộng đồng đa số da đen cũng như nhiều người da trắng, da màu và người Ấn Độ tại Nam Phi.

Những cuộc bầu cử thường xuyên được tổ chức trong gần một thế kỷ, nhưng đa số người Nam Phi da đen vẫn không có quyền bỏ phiếu cho tới tận năm 1994. Kinh tế Nam Phi là nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhất lục địa, với cơ sở hạ tầng hiện đại và rộng khắp đất nước và là quốc gia châu Phi duy nhất có trong G20.

Nam Phi đăng cai tổ chức và giành chiến thắng giải Cúp bóng đá châu Phi 1996. Nam Phi cũng thường được gọi là "Quốc gia cầu vồng", một thuật ngữ do Tổng giám mục Desmond Tutu đưa ra và được Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela chấp nhận. Tổng thống Mandela dùng thuật ngữ "Quốc gia Cầu vồng" để miêu tả sự đa dạng văn hoá mới phát triển sau khi chế độ aparthied bị bãi bỏ. Tới năm 2007, Nam Phi là nước thứ năm trên thế giới và đầu tiên tại châu Phi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính sau Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Canada. Nam Phi là quốc gia tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2010. Đây là lần đầu tiên sự kiện này được tổ chức tại châu Phi.

Tên gọi

sửa

Tên gọi "Nam Phi" bắt nguồn từ vị trí địa lý của đất nước ở mũi phía nam của châu Phi. Khi được thành lập, đất nước được gọi là Liên hiệp Nam Phi, trong tiếng Hà LanUnie van Zuid-Afrika, phản ánh sự hợp nhất bốn thuộc địa của Anh. Từ năm 1961, quốc hiệu của Nam Phi là "Cộng hòa Nam Phi", trong tiếng AfrikaansRepubliek van Suid-Afrika. Nam Phi có quốc hiệu trong 12 ngôn ngữ chính thức.[15][16]

Lịch sử

sửa

Nam Phi có một số trong những địa điểm khảo cổ học cổ nhất tại châu Phi. Những tàn tích hóa thạch lớn tại Sterkfontein, Kromdraai và các hang Makapansgat cho thấy nhiều giống người vượn phương Nam đã tồn tại tại Nam Phi từ khoảng ba triệu năm trước. Tiếp sau đó là nhiều giống Người (homo), gồm Homo habilis, Homo erectusHomo sapiens. Những cư dân nông nghiệp và chăn thả nói tiếng Bantu, sử dụng công cụ sắt, đã di cư về phía nam Sông Limpopo vào Nam Phi ngày nay từ thế kỷ thứ tư hay thứ năm (Cuộc bành trướng Bantu) thay thế những người nói tiếng Khoi và San bản xứ. Họ chậm chạp tiến về phía nam và những đồ sắt sớm nhất tại Tỉnh KwaZulu-Natal ngày nay được cho là có niên đại từ khoảng năm 1050. Nhóm tiến xa nhất về phía nam là người Xhosa, ngôn ngữ của họ đã tích hợp một số nét ngôn ngữ riêng của người Khoi và San trước đó, tiến tới Fish River, tại Tỉnh Đông Cape ngày nay. Những cư dân Thời đại đồ sắt đã chiếm chỗ những người săn bắn hái lượm tại đó.

Bức tranh mang tính tiểu thuyết hóa câu chuyện về sự đặt chân tới vùng đất của Jan van Riebeeck

Lịch sử thành văn của Nam Phi bắt đầu với những lời tường thuật của các nhà hàng hải châu Âu đi qua Nam Phi trên những con đường thương mại Đông Ấn. Nhà hàng hải châu Âu đầu tiên đi vòng quanh Cape bằng đường biển là nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Bartolomeu Dias năm 1488.

Khi Bartolomeu Dias quay trở lại Lisbon ông mang theo tin tức về sự khám phá ra cái ông gọi là "Cabo das Tormentas" (Mũi Giông Bão). Nhưng người bảo trợ cho ông, vua John II của Bồ Đào Nha đã lựa chọn một cái tên khác, "Cabo da Boa Esperança" (Mũi Hảo Vọng) vì nó hứa hẹn một con đường hàng hải tới Ấn Độ giàu có, hy vọng mà Bồ Đào Nha đang gắng sức thực hiện.

Cùng với những lời kể của những nhà hàng hải giai đoạn đầu, những lời kể của những người sống sót sau những vụ đắm tàu cung cấp những thông tin sớm nhất về miền Nam châu Phi. Trong hai thế kỷ sau đó 1488, một số khu định cư đánh cá nhỏ được Jan van Riebeeck thành lập tại Mũi Hảo Vọng nhân danh Công ty Đông Ấn Hà Lan. Hầu như trong suốt thế kỷ mười bảy và mười tám, những khu định cư phát triển chậm chạp đó đều thuộc sở hữu của người Hà Lan. Những người định cư Hà Lan cuối cùng gặp những người Xhosa phía tây nam tại vùng Fish River. Một loạt những cuộc chiến, được gọi là Những cuộc chiến tranh Biên giới Cape, xảy ra, chủ yếu do xung đột về đất đai và lợi ích.

Để giải quyết tình trạng thiếu nhân công tại Cape, nô lệ được đưa đến từ Indonesia, Madagascar, và Ấn Độ. Hơn nữa, những lãnh đạo gây rắc rối, thường có dòng dõi vua chúa, bị trục xuất từ các thuộc địa Hà Lan tới Nam Phi. Nhóm những nô lệ này cuối cùng trở thành nhóm dân số hiện tự gọi mình là "người Mã Lai Cape". Người Mã Lai Cape theo truyền thống được những kẻ thực dân châu Âu cho có địa vị xã hội cao hơn - nhiều người trong số họ trở thành những chủ đất giàu có, nhưng cũng dần bị tước quyền sở hữu khi chế độ Apartheid phát triển. Những giáo đường của người Cape Malay tại Quận Sáu được giữ nguyên, và hiện là những công trình tưởng niệm về sự phá hoại đã xảy ra trước đó xung quanh chúng.

Đa số hậu duệ của những nô lệ đó, thường có quan hệ hôn nhân với những người định cư Hà Lan, sau này được xếp hạng cùng với người Khoikhoi (còn gọi là Khoisan) thành Người da màu Cape. Cùng được phân loại trong nhóm Người da màu Cape còn có người Xhosa và các sắc tộc Nam Phi khác, vì thế hiện họ chiếm khoảng 50% dân số Tỉnh Tây Cape.

Vương quốc Anh đã nắm quyền kiểm soát vùng Mũi Hảo Vọng năm 1795 bề ngoài là để ngăn nó không rơi vào tay người Pháp thời Napoleon Bonaparte nhưng cũng là để tìm cách biến Cape Town thành một điểm dừng chân trên con đường tới Australia và Ấn Độ. Vùng này được trả lại cho Hà Lan năm 1803, nhưng ngay sau đó Công ty Đông Ấn Hà Lan tuyên bố phá sản, và người Anh đã sáp nhập Thuộc địa Cape năm 1806. Người Anh tiếp tục các cuộc chiến tranh biên giới chống lại người Xhosa, đẩy biên giới phía đông lùi ra xa hơn thông qua một loạt những pháo đài được thiết lập dọc Sông Fish và củng cố chúng bằng cách khuyến khích người Anh tới định cư. Vì áp lực của các phong trào bãi nô tại Anh, nghị viện Anh lần đầu tiên ngừng công việc buôn bán nô lệ trên quy mô thế giới của họ năm 1806, sau đó xóa bỏ chế độ nô lệ tại tất cả các thuộc địa của họ năm 1833.

Sự phát hiện kim cương năm 1867 và vàng năm 1886 đã thúc đẩy phát triển kinh tế và làn sóng nhập cư, làm tăng thêm tình trạng nô dịch hóa người bản xứ. Người Boers đã thành công trong việc ngăn chặn sự xâm lân của người Anh trong cuộc Chiến tranh Boer lần thứ Nhất (1880–1881) với các chiến thuật chiến tranh du kích, rất thích hợp với những điều kiện địa phương. Tuy nhiên, người Anh đã quay trở lại với số lượng lớn hơn trong cuộc Chiến tranh Boer lần thứ Hai (1899–1902). Những nỗ lực của người Boers thiết lập liên minh với vùng Tây Nam Phi của Đức càng khiến người Anh có lý do để giành quyền kiểm soát tất cả các nước Cộng hòa Boer.

Phụ nữ và trẻ em Boer tại các trại tập trung Anh

Người Boer kháng cự mạnh mẽ, nhưng cuối cùng người Anh với quân số vượt trội, chiến thuật hiện đại và những đường cung cấp hậu cần bên ngoài đã tiêu diệt các lực lượng Boers. Cũng trong cuộc chiến này, người Anh đã sử dụng các chiến thuật Trại Tập trungTiêu Thổ gây nhiều tranh cãi. Hiệp ước Vereeniging xác định chủ quyền đầy đủ của Anh trên toàn bộ các nước cộng hòa Nam Phi và chính phủ Anh chấp nhận chi trả khoản nợ chiến phí 3 000 000 £ cho các chính phủ người Nam Phi gốc Âu. Một trong những điều khoản chính của hiệp ước chấm dứt chiến tranh là 'Người da đen' sẽ không được phép bầu cử, ngoại trừ tại Thuộc địa Cape.

Độc lập

sửa

Sau bốn năm đàm phán, Liên hiệp Nam Phi được thành lập từ các thuộc địa CapeNatal, cũng như các nước cộng hòa thuộc Nhà nước Tự do OrangeCộng hoà Transvaal, ngày 31 tháng 5 năm 1910, chính xác tám năm sau khi Cuộc chiến tranh Boer lần thứ Hai chấm dứt. Liên hiệp Nam Phi mới được thành lập là một lãnh thổ tự trị trong khối Liên hiệp Anh. Năm 1934, Đảng Nam PhiĐảng Quốc gia hợp nhất để hình thành nên Đảng Thống nhất, tìm cách hòa giải giữa những người Nam Phi gốc Âu và những người 'Da trắng' nói tiếng Anh, nhưng đảng đã bị chia rẽ năm 1939 về vấn đề tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai của Liên minh với tư cách một đồng minh của Anh Quốc, một động thái mà Đảng Quốc gia phản đối kịch liệt.

Thời kỳ apartheid

sửa
D. F. Malan, thủ tướng đầu tiên của thời kỳ apartheid (1948–1954)

Năm 1948, Đảng Quốc gia trúng cử, nắm quyền lực và bắt đầu áp đặt một loạt bộ luật phân biệt đối xử nặng nề sau này sẽ được gọi chung là chế độ Apartheid. Không đáng ngạc nhiên, sự phân biệt đối xử này cũng được áp dụng đối với tài sản có được trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở thập niên 1950, '60, và '70. Tuy cộng đồng thiểu số Da trắng có được mức sống cao nhất trên toàn bộ châu Phi, thường được so sánh ngang bằng với các quốc gia phương Tây thuộc "Thế giới thứ Nhất", đa số người Da đen vẫn sống ở tình trạng nghèo khổ theo mọi tiêu chuẩn, gồm thu nhập, giáo dục, nhà ở và tuổi thọ. Tuy nhiên, thu nhập trung bình và tuổi thọ trung bình của người da đen, 'Ấn Độ' hay 'da màu' Nam Phi vẫn cao hơn rất nhiều quốc gia châu Phi với chính phủ da màu khác như GhanaTanzania.

Chế độ Apartheid dần gây ra nhiều tranh cãi, dẫn tới sự trừng phạt và rút vốn đầu tư từ nước ngoài và tình trạng bất ổn cũng như đàn áp ngày càng gia tăng bên trong Nam Phi. (Xem thêm bài về Lịch sử Nam Phi thời kỳ apartheid.) Một giai đoạn đàn áp kéo dài của chính phủ, cùng nhiều cuộc phản kháng bạo lực, những cuộc đình công, tuần hành, và phá hoại của nhiều phong trào phản đối chế độ apartheid, mà nhất là Đại hội Dân tộc Phi (ANC), diễn ra. Cuối thập 1970, Nam Phi khởi động một chương trình vũ khí hạt nhân, và trong thập kỷ sau đó họ đã chế tạo ra sáu vũ khí hạt nhân có thể sử dụng. Lý do căn bản của hành động sở hữu vũ khí hạt nhân bị tranh cãi, nhưng mọi người tin rằng VorsterP.W Botha muốn có khả năng buộc Hoa Kỳ phải can thiệp trong trường hợp xảy ra cuộc chiến giữa Nam Phi và chính phủ MPLA của Angola được Cuba hậu thuẫn.

Hậu apartheid

sửa
Frederik Willem de KlerkNelson Mandela bắt tay vào tháng 1 năm 1992.

Năm 1990, Frederik Willem de Klerk của Đảng Quốc gia lên làm tổng thống thay thế Botha. Nhờ vị trí này, và với quyết tâm, ông đã cải cách để từng bước phá bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid và tiến hành bước đầu tiên đàm phán về việc rời bỏ quyền lực của chính họ khi dỡ bỏ lệnh cấm đảng Đại hội Dân tộc Phi và các tổ chức chính trị cánh tả khác hoạt động, và trả tự do cho những tù nhân da màu, trong số đó có Nelson Mandela sau 27 năm ở tù vì cáo buộc hành động bạo lực vũ trang. Các luật lệ apartheid dần được hủy bỏ, và Nam Phi cũng phá hủy kho vũ khí hạt nhân của mình và gia nhập Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Năm 1992, người Nam Phi da trắng đồng ý bãi bỏ chế độ apartheid trong một cuộc trưng cầu ý dân. Cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên được tổ chức năm 1994, Đại hội Dân tộc Phi giành thắng lợi vang dội với đa số ghế. Đảng này đã lên nắm quyền lực tại Nam Phi kể từ thời điểm đó.

Dù chế độ apartheid đã chấm dứt, hàng triệu người dân Nam Phi, chủ yếu là người da đen, vẫn tiếp tục sống trong nghèo khổ. Điều này một phần bởi di sản của hệ thống apartheid (dù tình trạng nghèo khổ cũng là vấn đề trên khắp châu Phi), và, một điều mà ngày càng có nhiều người coi là một sai lầm của chính phủ hiện nay trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, cộng với những quy định tiền tệ và thuế của chính phủ hiện tại nhằm đảm bảo cả việc tái phân phối tài sản và tăng trưởng kinh tế. Trong mười năm kể từ khi Đại hội Dân tộc Phi lên nắm quyền, Chỉ số Phát triển Con người của Nam Phi đã giảm thảm hại, tuy trước đó nó luôn tăng trưởng vững chắc cho tới giữa thập niên 1990.[17] Đa số nguyên nhân có thể quy cho đại dịch AIDS và sai lầm của chính phủ trong việc đương đầu với nó.[18] Tuy nhiên, chính sách nhà ở xã hội của Đại hội Dân tộc Phi đã mang lại một số cải thiện trong điều kiện sống tại nhiều vùng bằng cách xem xét lại chi tiêu ngân sách và cải thiện tính hiệu năng của hệ thống thu thuế.

Địa lý

sửa
Địa hình Nam Phi

Nam Phi là đất nước nằm ở phần mũi phía nam của lục địa châu Phi, với một đường bờ biển dài hơn 2500 kilometres (1.550 dặm) chạy qua hai đại dương (Đại Tây DươngẤn Độ Dương). Với tổng diện tích là 1.219.912 km² (470 979 mi²)[19] Nam Phi là nước lớn thứ 25 trên thế giới (sau Mali). Nam Phi có kích thước tương đương Colombia. Njesuthi tại Drakensberg với độ cao 3 408 m (11.424 ft) là đỉnh cao nhất Nam Phi. Nam Phi giáp biên giới với Botswana - 1.840 km, Lesotho - 909 km, Mozambique - 491 km, Namibia - 967 km, Eswatini - 430 km, và Zimbabwe - 225 km. Nó có bờ biển dài 2.798 km.

Trái ngược với quan niệm thông thường của mọi người, Nam Phi có khí hậu nói chung ôn hòa, một phần nhờ nó được bao quanh bởi Đại Tây DươngẤn Độ Dương ở ba phía, nhờ vị trí nằm tại bán cầu nam với thời tiết dịu hơn, và nhờ độ cao tăng dần về phía bắc (về hướng xích đạo) và trong lục địa. Vì những ảnh hưởng địa hình và hải dương này, Nam Phi có nhiều khu vực khí hậu.

Bản đồ phân loại khí hậu Köppen của Nam Phi

Các vùng khí hậu khá khác biệt, từ sa mạc khô cằn phía nam Namib tại cực tây bắc tới kiểu khí hậu cận nhiệt đới tươi tốt ở phía đông dọc biên giới với MozambiqueẤn Độ Dương. Từ phía đông, địa hình nhanh chóng chuyển thành núi non dựng đứng về hướng cao nguyên nội địa được gọi là Thảo nguyên cao. Thậm chí Nam Phi bị xếp hàng là bán khô cằn, có khá nhiều khác biệt về khí hậu cũng như địa hình.

Nội địa Nam Phi là một vùng cao nguyên đất sét rộng lớn, phẳng và dân cư thưa thớt, khí hậu khô hơn về hướng tây bắc dọc theo xa mạc Namib. Trái lại, ở bờ biển phía đông là vùng đất với cây cối tươi tốt, nhiều nước với kiểu khí hậu nhiệt đới. Cực tây nam có khí hậu rất giống với kiểu khí hậu Địa Trung Hải với mùa đông ẩm và mùa hè khô, là nơi có Quần xã sinh vật Fynbos nổi tiếng. Khu vực này cũng là nơi sản xuất ra đa số các loại rượu Nam Phi. Vùng này cũng vì loại gió tại đó, thổi không liên tục suốt năm. Sự dữ dội của loại gió này khiến việc đi ngang qua Mũi Hảo Vọng trở nên đặc biệt khó khăn cho các thủy thủ, gây ra nhiều vụ đắm tàu. Xa hơn về phía đông của bờ biển phía nam đất nước, lượng mưa được phân bố đồng đều suốt năm khiến phong cảnh xanh tươi. Vùng này thường được gọi là Garden Route.

Free State đặc biệt bằng phẳng nhờ nó nằm trên cao nguyên. phía bắc Sông Vaal, Thảo nguyên cao được cung cấp nhiều nước hơn và không có kiểu thời tiết đặc biệt nóng cận nhiệt đới. Johannesburg, tại trung tâm Thảo nguyên cao, ở độ cao 1740 mét (5.709 ft) và có lượng mưa trung bình hàng năm 760 milimét (30 in). Mùa đông tại vùng này lạnh, dù tuyết khá hiếm.

Tới phía bắc Johannesburg, độ cao giảm về hướng vách đứng Thảo nguyên cao, và chuyển về hướng Thảo nguyên cây bụi thấp hơn, một vùng pha trộn giữa những khu rừng khô và phong phú về động thực vật hoang dã. phía đông Thảo nguyên cao, về hướng vách đứng phía đông, Thảo nguyên thấp trải dài về phía Ấn Độ Dương. Vùng này có nhiệt độ đặc biệt cao, và cũng là nơi thuận lợi cho canh tác nông nghiệp cận nhiệt đới. Các dãy núi Barberton dải Greenstone tại thảo nguyên thấp là những dãy núi già nhất trên Trái Đất, có niên đại từ 3.5 tỷ năm trước. Bằng chứng sớm nhất về cuộc sống (có niên đại 3.2 - 3.5 triệu năm) đã được tìm thấy tại những dãy núi này.

Dãy núi cao Drakensberg, hình thành nên dốc đứng đông nam Thảo nguyên cao, là nơi có thể tổ chức môn trượt tuyết vào mùa đông. Nhiều người cho rằng địa điểm lạnh nhất Nam Phi là Sutherland ở phía tây Núi Roggeveld, nơi nhiệt độ vào giữa mùa đông có thể xuống tới −15 độ C (5 °F). Trên thực tế, nơi lạnh nhất là Buffelsfontein, tại quận Molteno thuộc Đông Cape. Buffelsfontein đã ghi nhận nhiệt độ −18.6 độ C (-1.5 °F).[20] Vùng sâu trong nội địa có thời tiết nóng nhất: nhiệt độ 51.7 °C (125 °F) đã được ghi lại năm 1948 tại Bắc Cape Kalahari gần Upington.[21]

Nam Phi cũng có một quần đảo cận Nam Cực nhỏ là Quần đảo Hoàng tử Edward, gồm Đảo Marion (290 km²/112 mi²) và Đảo Hoàng tử Edward (45 km²/17.3 mi²) (không nên nhầm với một tỉnh trùng tên của Canada).

Hệ động thực vật

sửa
Fynbos, một vương quốc thực vật độc nhất tại Nam Phi, gần Cape Town

Nam Phi là một trong 17 quốc gia trên thế giới được coi là rất đa dạng sinh thái. Nam Phi có hơn 20.000 loài cây cỏ khác nhau, hay khoảng 10% tất cả các giống loài thực vật được biết trên thế giới. Nam Phi là nước đa dạng sinh thái thứ ba trên thế giới, sau BrazilIndonesia và có mức đa dạng sinh thái cao hơn bất kỳ một quốc gia nào có diện tích tương đương hoặc nhỏ hơn (Brazil lớn gần gấp bảy lần Nam Phi, và Indonesia lớn hơn 50%).

Quần xã sinh vật ưu thế tại Nam Phi là đồng cỏ, đặc biệt trên Thảo nguyên cao, nơi mặt đất được bao phủ chủ yếu bởi nhiều loài cỏ, cây bụi thấp, và cây keo, chủ yếu là camel-thorn và táo gai. Cây cỏ trở nên thưa thớt hơn ở phía tây bắc vì lượng mưa thấp. Có nhiều loài cây mọng nước như lô hộiđại kích ở vùng Namaqualand rất nóng và khô. Các thảo nguyên cỏ và táo gai dần chuyển thành thảo nguyên cây bụi về phía đông bắc đất nước, với mật độ cây dày hơn. Có một số lượng khá lớn cây bao báp trong vùng này, gần điểm cuối phía bắc Vườn Quốc gia Kruger.[22]

Quần xã Fynbos, chiếm ưu thế tại vùng thực vật Cape, một trong sáu vương quốc thực vật, nằm trong một vùng nhỏ tại Tây Cape và sở hữu trên 9.000 loài, khiến nó trở thành một trong những vùng thực vật phong phú nhất trên thế giới. Đa số các loài cây là cây lá cứng xanh tốt với lá dạng kim nhỏ, như những cây sclerophyllous. Một loại cây độc hữu của Nam Phi là giống hoa protea. Có khoảng 130 loài protea tại Nam Phi.

Tuy Nam Phi có rất nhiều loài hoa, nhưng Nam Phi lại sở hữu ít rừng. Chỉ 1% diện tích Nam Phi được rừng bao phủ, hầu như chỉ tập trung tại vùng đồng bằng ven biển ẩm dọc Ấn Độ Dương tại KwaZulu-Natal (xem Rừng ven biển KwaZulu-Cape). Thậm chí còn có những khu bảo tồn rừng rất nhỏ không bao giờ gặp nguy cơ hỏa hoạn, được gọi là rừng trên núi (xem Rừng trên núi Knysna-Amatole). Canh tác các loài cây nhập khẩu là hoạt động chủ yếu, đặc biệt là bạch đànthông. Nam Phi đã mất nhiều khu môi trường sống tự nhiên rộng lớn trong bốn thập kỷ gần đây, chủ yếu vì nạn nhân mãn, tình trạng phát triển và sự phá rừng trong thế kỷ mười chín. Nam Phi là một trong những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới trước sự xuất hiện của các giống loài ngoại lai (ví dụ keo đen, Port Jackson, Hakea, cây cứt lợnlan dạ hương) đặt ra một mối đe dọa lớn với đa dạng sinh thái bản địa và đã gây ra tình trạng khan hiếm nguồn tài nguyên nước. Rừng ôn đới trước kia đã bị những người định cư châu Âu tới Nam Phi khai thác cạn kiệt và hiện chỉ còn sót lại vài khu nhỏ. Hiện tại, các loài cây gỗ cứng tại Nam Phi như hoàng đàn (Podocarpus latifolius), stinkwood (Ocotea bullata), và lim đen (Olea laurifolia) đang được chính phủ bảo vệ.

Nhiều loài động vật có vú sinh sống tại các thảo nguyên cây bụi gồm sư tử, báo, tê giác trắng, linh dương đầu bò xanh, linh dương vằn kudu, linh dương sừng xoắn châu Phi, linh cẩu, hà mã, và hươu cao cổ. Có một quần thể sinh vật thảo nguyên cây bụi rất đáng chú ý ở phía đông bắc như Vườn quốc gia Kruger và Khu dự trữ Mala Mala, cũng như ở vùng cực bắc tại Sinh quyển Waterberg.

Sự thay đổi khí hậu được cho là sẽ mang lại tình trạng nhiệt độ cao và khô cho vùng đất vốn đã bán khô cằn này, với tần số và cường độ hoạt động khí hậu cực độ như sóng nhiệt, lụt và hạn. Theo dự đoán biến đổi khí hậu trên máy tính của Viện Đa dạng Sinh thái Quốc gia Nam Phi (SANBI)[23] (cùng với nhiều viện đối tác khác), nhiều vùng phía nam châu Phi sẽ đối mặt với hiện tượng tăng nhiệt độ khoảng 1 độ C dọc theo bờ biển cho tới 4 độ C tại hầu hết những vùng nội địa đã có khí hậu rất nóng như Bắc Cape vào thời điểm cuối thu và hè từ năm 2050.

Vương quốc thực vật Cape đã được xác định là một trong điểm đa dạng sinh thái gặp nguy hiểm của thế giới bởi nó sẽ phải đối mặt với tình trạng thời tiết rất nóng do sự thay đổi khí hậu. Hạn hán, ngày càng diễn ra thường xuyên và khốc liệt hơn cùng với sự tăng nhiệt độ được cho là sẽ khiến nhiều loài quý hiếm đi tới tuyệt chủng. Cuốn sách Scorched: South Africa's changing climate dựa trên mô hình thay đổi thời tiết do SANBI đưa ra.[24]

Nam Phi sở hữu nhiều giống loài đặc hữu, trong số đó có loài Thỏ ven sông (Bunolagus monticullaris) đang ở tình trạng nguy cơ tuyệt chủng cao tại Karoo.

Chính phủ và chính trị

sửa
Union Buildings tại Pretoria là trụ sở Chính phủ
Trụ sở Nghị viện tại Cape Town
Trụ sở Tòa án Hiến pháp tại Johannesburg

Nam Phi là một nước cộng hòa đại nghị. Tổng thốngnguyên thủ quốc gia kiêm người đứng đầu chính phủ và phải duy trì sự tín nhiệm của Nghị viện. Hiến pháp Nam Phi là luật cơ bản của Nam Phi và các tòa án cấp cao có quyền hủy bỏ văn bản của chính phủ, luật của Nghị viện trái với Hiến pháp. Nghị viện là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Quốc hộiHội đồng Quốc gia các Tỉnh. Quốc hội là hạ viện, gồm 400 nghị sĩ được bầu theo hệ thống đại diện tỷ lệ với nhiệm kỳ năm năm. Hội đồng Quốc gia các Tỉnh là thượng viện, gồm 90 đại biểu do các nghị viện tỉnh bầu ra, mỗi tỉnh cử mười đại biểu.

Trong cuộc tổng tuyển cử gần nhất diễn ra vào ngày 29 tháng 5 năm 2024, đảng ANC đã mất đi đa số ghế lần đầu tiên kể từ khi chế độ Apartheid sụp đổ,[25] khi chỉ giành được 40% số phiếu bầu và 159 ghế. Trong khi đó, đảng đối lập chính là Liên minh Dân chủ (DA) giành được 22% số phiếu và 87 ghế. Mkhonto weSizwe, một đảng mới do cựu Tổng thống kiêm nhà lãnh đạo ANC Jacob Zuma thành lập, đã giành được 14,6% số phiếu và 58 ghế; còn đảng Những người đấu tranh vì tự do kinh tế do Julius Malema (cựu chủ tịch Đoàn Thanh niên ANC, người sau đó bị khai trừ khỏi đảng) thành lập, giành được 9,5% số phiếu và 39 ghế. Sau cuộc bầu cử, ANC đã liên minh với DA cùng một số đảng nhỏ khác để thành lập nên chính phủ Đoàn kết Dân tộc.[26]

Nam Phi không có thủ đô được quy định cụ thể trong luật pháp. Chương bốn của hiến pháp có ghi: "Nơi đặt trụ sở của Nghị viện là Cape Town, nhưng một Đạo luật của Nghị viện được ban hành theo mục 76(1) và (5) có thể quyết định đặt trụ sở của Nghị viện ở nơi khác."[27] Ba nhánh quyền lực của chính phủ quốc gia này được phân chia ở ba thành phố khác nhau. Cape Town, nơi đặt trụ sở Nghị viện, là thủ đô lập pháp; Pretoria, nơi đặt trụ sở của tổng thống và nội các, là thủ đô hành chính; và Bloemfontein, nơi đặt trụ sở của Tòa Phúc thẩm Tối cao, được coi là thủ đô tư pháp; mặc dù cơ quan tư pháp cao nhất là Tòa án Hiến pháp đã đặt trụ sở tại Johannesburg kể từ năm 1994. Hầu hết các đại sứ quán nước ngoài đều nằm ở Pretoria.

Kể từ năm 2004, Nam Phi đã chứng kiến hàng ngàn cuộc biểu tình của quần chúng,[28] trong đó có một số cuộc bạo động, khiến quốc gia này trở thành "đất nước có nhiều hoạt động biểu tình nhất thế giới" theo đánh giá của một học giả.[29] Tại đây cũng xảy ra nhiều vụ đàn áp chính trị.[30][31] Vào năm 2022, Nam Phi xếp thứ sáu trong số 48 quốc gia vùng Hạ Sahara trong Chỉ số Ibrahim về Quản trị châu Phi. Quốc gia này đạt điểm cao trong các chỉ số về thượng tôn Pháp luật, tính minh bạch, phòng chống Tham nhũng, sự tham gia của công chúng và nhân quyền, nhưng lại có số điểm thấp ở mảng an toàn và an ninh.[32] Vào năm 2006, Nam Phi trở một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới.[33][34]

Cơ sở chủ yếu của luật pháp Nam Phi là luật thương mại và cá nhân Rôma-Hà Lan cùng Thông luật Anh, ảnh hưởng từ những người định cư Hà Lan và những kẻ thực dân Anh. Luật đầu tiên dựa trên cơ sở châu Âu tại Nam Phi do Công ty Đông Ấn Hà Lan đưa ra và được gọi là Luật Rôma-Hà Lan. Nó được đưa ra trước khi luật châu Âu được đưa vào trong Bộ Luật Napolenon và giống với Luật Scotland ở nhiều khía cạnh. Sau bộ luật này là cả Thông luậtLuật thành văn của Anh Quốc ở thế kỷ XIX. Bắt đầu với sự thống nhất từ năm 1910, Nam Phi có nghị viện riêng của mình và đưa ra những bộ luật riêng biệt cho Nam Phi, được xây dựng trên cơ sở luật pháp trước đó của từng thuộc địa.

Quan hệ ngoại giao

sửa
Nguyên thủ các quốc gia BRICS tại Hàng Châu, năm 2016.

Nam Phi là một thành viên sáng lập của Liên Hợp Quốc. Sau đó, Thủ tướng Jan Smuts đã viết lời mở đầu cho Hiến chương Liên Hợp Quốc.[35][36] Nam Phi là một trong những thành viên sáng lập của Liên minh châu Phi (AU), và có nền kinh tế lớn thứ hai của tất cả các thành viên. Đây cũng là một thành viên sáng lập Đối tác mới của Liên minh châu Phi vì sự phát triển châu Phi (NEPAD).

Nam Phi đã đóng vai trò trung gian trong các cuộc xung đột ở châu Phi trong thập kỷ qua, như Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, ComorosZimbabwe. Sau khi chính sách phân biệt chủng tộc kết thúc, Nam Phi đã được gia nhập vào Khối Thịnh vượng chung quốc gia. Nam Phi là thành viên của G77 và chủ trì tổ chức vào năm 2006. Nam Phi cũng là thành viên của Cộng đồng Phát triển Nam Phi, Khu vực Hợp tác và Hòa bình Nam Đại Tây Dương, Liên minh Thuế quan Nam Phi, Hệ thống Hiệp ước Nam Cực, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, G20, G8+5Hiệp hội quản lý cảng của Đông và Nam Phi.

Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nâng cấp quan hệ song phương giữa hai nước vào ngày 24/8/2010, khi họ ký Hiệp định Bắc Kinh, nâng cao mối quan hệ đối tác chiến lược của Nam Phi với Trung Quốc. trong cả hai vấn đề kinh tế và chính trị, bao gồm tăng cường trao đổi giữa các đảng cầm quyền và cơ quan lập pháp tương ứng.[37][38] Vào tháng 4 năm 2011, Nam Phi chính thức gia nhập BRICS, được xác định bởi Tổng thống Zuma là đối tác thương mại lớn nhất của đất nước, và cũng là đối tác thương mại lớn nhất với toàn bộ châu Phi. Zuma khẳng định rằng các nước thành viên BRICS cũng sẽ làm việc với nhau thông qua Liên Hợp Quốc, G20 và Diễn đàn Ấn Độ, Brazil và Nam Phi (IBSA).[39]

Phân cấp hành chính

sửa
Tỉnh của Nam Phi

Về mặt hành chính, Nam Phi được chia thành chín tỉnh. Các tỉnh được chia thành 52 quận, gồm 6 khu đô thị và 46 đô thị cấp quận. Các đô thị cấp quận được chia thành 231 địa phương, trong khi các khu đô thị hoạt động như đơn vị cấp quận và địa phương.

Tỉnh Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích (km2)[40] Dân số (2022)[41]
Đông Cape Bhisho Gqeberha 168,966 7,230,204
Free State Bloemfontein Bloemfontein 129,825 2,964,412
Gauteng Johannesburg Johannesburg 18,178 15,099,422
KwaZulu-Natal Pietermaritzburg Durban 94,361 12,423,907
Limpopo Polokwane Polokwane 125,754 6,572,720
Mpumalanga Mbombela Mbombela 76,495 5,143,324
Tây Bắc Mahikeng Klerksdorp 104,882 3,804,548
Bắc Cape Kimberley Kimberley 372,889 1,355,946
Tây Cape Cape Town Cape Town 129,462 7,433,019

Quân đội

sửa
Trực thăng tấn công Rooivalk do Nam Phi sản xuất
SAS Spioenkop (F147), một trong bốn tàu khu trục tên lửa dẫn đường tàng hình lớp Valour của Hải quân Nam Phi

Lực lượng Phòng vệ Quốc gia Nam Phi là lực lượng vũ trang chính quy của Nam Phi, được thành lập vào năm 1994[42][43] trên cơ sở hợp nhất Lực lượng Phòng vệ Nam Phi, các lực lượng vũ trang của các nhóm dân tộc chủ nghĩa châu Phi (uMkhonto we SizweQuân Giải phóng Nhân dân Azania) và các lực lượng phòng vệ Bantustan.[42] Lực lượng Quốc phòng gồm bốn quân chủng Lục quân, Không quân, Hải quân, Quân chủng Quân y với 75.000 quân nhân vào năm 2019.[44][45] Trong những năm gần đây, Lực lượng Quốc phòng Nam Phi đã trở thành lực lượng gìn giữ hòa bình chính tại châu Phi[46] và đã tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình tại Lesotho, Cộng hòa Dân chủ Congo,[46] Burundi[46] cũng như tham gia vào các lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc như Lữ đoàn Can thiệp thuộc Lực lượng Liên Hợp Quốc. Năm 2025, ngân sách quốc phòng của Nam Phi là 3,149 tỷ đô la Mỹ, đạt 0,8% GDP. Đã có đề xuất tăng ngân sách quốc phòng lên 1,5% GDP nhằm đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, tăng cường năng lực và thực hiện các nhiệm vụ an ninh khu vực.[47][48]

Nam Phi đã tiến hành một chương trình vũ khí hạt nhân trong thập niên 1970 và có thể đã tiến hành một vụ thử hạt nhân trên Đại Tây Dương năm 1979. Từ đó Nam Phi đã từ bỏ chương trình hạt nhân của mình và phá hủy kho vũ khí hạt nhân nhỏ sở hữu, ký kết Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân năm 1991. Đây là nước châu Phi duy nhất đã phát triển thành công vũ khí hạt nhân.


Kinh tế

sửa
Victoria & Alfred Waterfront tại Cape Town với Núi Table ở phía sau. Cape Town đã trở thành một trung tâm bán lẻdu lịch quan trọng của đất nước, và thu hút số lượng khách du lịch lớn nhất tại Nam Phi

Theo xếp hạng của Liên hiệp quốc, Nam Phi là quốc gia có mức thu nhập loại trung bình và sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên; tài chính, truyền thông và năng lượng rất phát triển, thị trường chứng khoán xếp hạng nằm trong tốp 20 của thế giới. Nam Phi có một cơ sở hạ tầng hiện đại hỗ trợ phân phối hàng hóa hiệu quả, tăng trưởng kinh tế cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, phân cách giàu nghèo đang gia tăng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người của Nam Phi, tính theo sức mua tương đương, đặt Nam Phi vào vị trí một trong năm mươi nước giàu nhất thế giới

Theo nhiều phương diện, Nam Phi là một nước phát triển; tuy nhiên, sự phát triển này chủ yếu tập trung quanh bốn vùng là Cape Town, Port Elizabeth, Durban, và Pretoria/Johannesburg. Ngoài bốn trung tâm kinh tế đó, sự phát triển rất ít thấy và tình trạng nghèo khổ vẫn hiện diện dù đã có những nỗ lực của chính phủ. Tuy nhiên, các vùng đệm quan trọng gần đây đã có những bước phát triển nhanh chóng. Như các vùng: Vịnh Mossel tới Vịnh Plettenberg; vùng Rustenburg; vùng Nelspruit; Bloemfontein; Bờ biển Cape West; KZN North Coast.

Hố sâu thu nhập và một nền kinh tế đối ngẫu cho thấy Nam Phi là một nước phát triển. Nam Phi có một trong những tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập cao nhất thế giới. Một thập kỷ tăng trưởng kinh tế liên tục đã giúp giảm tình trạng thất nghiệp, nhưng các vấn đề kinh tế vẫn còn đó. Các vấn đề khác gồm tội phạm, tham nhũng và HIV/AIDS.

Bắt đầu từ năm 2000, Tổng thống Thabo Mbeki đã tập trung cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách giảm bớt các hạn chế của luật lao động, đẩy nhanh quá trình tư nhân hoá, và cắt giảm những khoản chi tiêu không cần thiết của chính phủ. Các chính sách của ông gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía các công đoàn. Nam Phi cũng là nước sản xuất và tiêu thụ năng lượng lớn nhất châu Phi.

Đồng rand Nam Phi, đồng tiền tệ thị trường hoạt động nhất thế giới, đã gia nhập câu lạc bộ mười lăm đồng tiền tệ được ưa thích, hệ thống Thanh toán kết nối liên tục (CLS), nơi các giao dịch được giải quyết lập tức, làm giảm nguy cơ giao dịch xuyên múi giờ. Theo Bloomberg Currency Scorecard, đồng rand Nam Phi (ZAR) là đồng tiền tệ hoạt động tốt nhất trước đồng dollar Mỹ trong giai đoạn 2002 - 2005.

Sự biến đổi nhanh của đồng rand đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế, với sự sụt giá mạnh của nó trong năm 2001, rơi xuống mức thấp kỷ lục R13.85 trên dollar Mỹ, làm dấy lên những lo ngại lạm phát, và buộc Ngân hàng Dự trữ Quốc gia phải tăng tỷ lệ lãi suất. Từ thời điểm đó đồng rand đã phục hồi, đạt mức R6.99 trên dollar Mỹ ở thời điểm tháng 1 năm 2007 trong khi chính sách của Ngân hàng Dự trữ Quốc gia Nam Phi về lạm phát với đã hoàn thành mục tiêu đưa lạm phát về mức kiểm soát được. Tuy nhiên, đồng rand càng mạnh càng gây nhiều sức ép lên những nhà xuất khẩu, và nhiều người hiện kêu gọi chính phủ can thiệp vào tỷ lệ trao đổi giúp giảm giá đồng rand.

Người tị nạn từ các quốc gia nghèo láng giềng cộng với dòng người nhập cư từ Cộng hòa Dân chủ Congo, Mozambique, Zimbabwe, Malawi và nhiều nước khác đang là một vấn đề với Nam Phi. Với tỷ lệ thất nghiệp cao trong cộng đồng người nghèo Nam Phi, tình trạng bài ngoại là một mối lo ngại rất hiện thực và nhiều người sinh tại Nam Phi cảm thấy bực bội với những người nhập cư được coi là nguyên nhân khiến nhiều người Nam Phi bị mất việc vì người nhập cư nhận đồng lương thấp hơn công dân Nam Phi, đặc biệt trong ngành công nghiệp xây dựng, du lịch, nông nghiệpdịch vụ trong nước. Những người nhập cư bất hợp pháp cũng tham gia tích cực vào thị trường chợ đen.[49] Tuy nhiên, nhiều người nhập cư tới Nam Phi vẫn tiếp tục sống trong tình trạng nghèo khổ, và chính sách nhập cư của Nam Phi dần trở lên chặt chẽ từ năm 1994.[50]

Nông nghiệp

sửa
Người lao động làm việc trên một nông trại ở vùng trung tâm Mpumalanga.
Người nông dân trên nông trại.

Nam Phi có lĩnh vực nông nghiệp rộng lớn và là nhà xuất khẩu các sản phẩm trang trại lớn. Có tới hàng ngàn hợp tác xã nông nghiệpdoanh nghiệp nông nghiệp trên khắp đất nước, và những mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp chiếm 8% tổng xuất khẩu Nam Phi trong năm năm qua. Công nghiệp nông nghiệp chiếm khoảng 10% nhân công chính thức, khá thấp so với những khu vực khác tại châu Phi, cũng như cung cấp việc làm cho những lao động bán thời gian và đóng góp khoảng 2.6% Tổng sản phẩm quốc nội cho quốc gia.[51] Tuy nhiên, vì đất đai khô cằn, chỉ 13.5% diện tích có thể sử dụng cho trồng cấy, và chỉ 3% được coi là đất có nhiều tiềm năng.[52]

Dù lĩnh vực trang trại thương mại khá phát triển, người dân tại một số vùng nông thôn vẫn sống nhờ nông nghiệp. Đây là nước sản xuất rượu lớn thứ tám thế giới, và thứ mười một về hạt hướng dương. Nam Phi là nhà xuất khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm, các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất gồm đường ăn, nho, chanh, đào, rượu và các loại hoa quả. Loại ngũ cốc được sản xuất nhiều nhất tại Nam Phi là ngô, và ước tính hàng năm 9 triệu tấn được chế tạo, và 7.4 tấn được tiêu thụ. Thú nuôi cũng phổ biến tại các trang trại Nam Phi, Nam Phi sản xuất ra 85% tất cả các loại thịt được tiêu thụ. Ngành công nghiệp chế biến sữa gồm khoảng 4.300 nhà sản xuất sữa cung cấp việc làm cho 60.000 công nhân trang trại và mang lại sinh kế cho khoảng 40.000 người khác.[53]

Trong những năm gần đây, lĩnh vực nông nghiệp đã trải qua nhiều cải cách, một số chúng gây nhiều tranh cãi, như cải cách ruộng đất và bãi bỏ quy định thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp. Cải cách ruộng đất bị cả các nhóm nông dân và những người công nhân làm thuê không ruộng đất chỉ trích, những người không ruộng đất cho rằng sự thay đổi chưa đủ mạnh, những người sở hữu ruộng đất cho rằng đó là cách đối xử phân biệt chủng tộc và thể hiện lo ngại tình trạng tương tự như chính sách cải cách ruộng đất Zimbabwe có thể sẽ diễn ra,[54] một mối lo ngại càng gia tăng sau những lời bình luận của phó tổng thống Nam Phi.[55][56] Lĩnh vực này vẫn phải tiếp tục đương đầu với nhiều vấn đề, sự cạnh tranh ngày càng tăng từ nước ngoài và tình trạng tội phạm là hai thách thức nghiêm trọng nhất. Chính phủ đã bị cáo buộc không cung cấp đầy đủ thời gian và tiền bạc để giải quyết vấn đề những cuộc tấn công trang trại như với những dạng thức tội phạm khác.[57]

Một vấn đề khác ảnh hưởng tới nông nghiệp Nam Phi là những thiệt hại về môi trường do sự sử dụng không đúng đắn đất đai và sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Nam Phi dễ bị tổn thương vì sự thay đổi khí hậu và kết quả chính là tình trạng giảm sút nguồn nước bề mặt. Một số dự đoán cho thấy nguồn cấp nước bề mặt sẽ giảm 60% năm 2070 ở nhiều vùng thuộc Tây Cape.[58] Để đảo ngược những thiệt hại do sự quản lý đất đai sai lầm, chính phủ đã ủng hộ một kế hoạch khuyến khích phát triển bền vững và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý.[59]

Phong trào những người không có đất là một diễn biến độc lập ở Nam Phi. Nó bao gồm những nông dân và người sống trong những chiếc lán tạm bợ thuộc những khu định cư trong thành phố..Phong trào những người không có đất tẩy chay cuộc bầu cử nghị viện và có một lịch sử trước đó về vấn đề xung đột với các Quốc Hội thuộc cái quốc gia Châu Phi. Phong trào những người không có đất có liên quan đến thuật ngữ "Via Campesina" một cách quốc tế, và chi nhánh của nó ở Johannesburg đã thành lập Liên minh những người nghèo khổ tại Nam Phi.

Khai thác khoáng sản

sửa
Góc nhìn từ trên cao của Mỏ Two Rivers tại Nam Phi, thuộc sở hữu của tập đoàn African Rainbow Minerals. Nam Phi là quốc gia sản xuất bạch kim lớn nhất thế giới.

Ngành khai khoáng là trụ cột của nền kinh tế Nam Phi kể từ cuối thế kỷ 19, đóng vai trò then chốt đối với xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp của quốc gia này. Ngành này đóng góp khoảng 7–8% vào GDP, đưa Nam Phi trở thành quốc gia có tỷ trọng ngành khai khoáng đóng góp vào GDP lớn thứ 5 trên thế giới,[60] ngành này cũng chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước.[60] Nam Phi từng là nhà sản xuất vàng dẫn đầu thế giới trong phần lớn thế kỷ 20, đạt đỉnh điểm gần 1.000 tấn vào năm 1970,[61] tương đương với hai phần ba sản lượng toàn cầu; kể từ đó đến nay chưa từng có quốc gia nào tiếp cận được quy mô này.[62] Quốc gia này hiện vẫn là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về bạch kim,[63] crôm,[64] mangan,[65]vanadi,[66] đồng thời đứng thứ hai về sản lượng titan,[67] ilmenit, palladi, rutilezirconi.[68] Nam Phi cũng nằm trong nhóm 10 quốc gia sản xuất than, quặng sắt, urani,[69]kim cương hàng đầu thế giới.[70]

Quốc gia này nắm giữ những kho dự trữ khoáng sản giá trị bậc nhất thế giới,[60] với tổng giá trị ước tính vượt mức 2,5 nghìn tỷ USD, và lọt vào top 10 toàn cầu của 16 loại mặt hàng khoáng sản khác nhau.[71] Nam Phi sở hữu trữ lượng kim loại nhóm bạch kim lớn nhất thế giới (chiếm khoảng 88% tổng trữ lượng toàn cầu), mangan (khoảng 80%) và chromite (khoảng 72%).[71] Nơi đây cũng có tài nguyên alumino-silicate đáng kể và xếp thứ hai toàn cầu về trữ lượng vanadi (32%), zirconi (25%), khoáng vật titan (10%), vermiculite (40%) và fluorite (17%).[71] Ngoài ra, Nam Phi đứng thứ 3 thế giới về trữ lượng vàng (chiếm khoảng 13% trữ lượng đã biết của toàn cầu),[71][72][73] nắm giữ 17% trữ lượng antimon, đồng thời nằm trong top 10 quốc gia có trữ lượng than, quặng sắturani lớn nhất.[71]

Khoa học và công nghệ

sửa
Mark Shuttleworth ở ngoài không gian

Nhiều thành tựu phát triển khoa học và công nghệ quan trọng đã được khởi nguồn từ Nam Phi. Quốc gia này xếp thứ 61 trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu vào năm 2025.[74][75] Ca ghép tim từ người sang người đầu tiên trên thế giới được thực hiện bởi bác sĩ phẫu thuật tim Christiaan Barnard tại Bệnh viện Groote Schuur vào tháng 12 năm 1967; Max Theiler đã phát triển thành công vắc-xin chống lại bệnh sốt vàng, Allan MacLeod Cormack là người tiên phong trong phương pháp chụp cắt lớp vi tính bằng tia X; và Aaron Klug đã phát triển các kỹ thuật kính hiển vi điện tử tinh thể học. Cả Cormack và Klug đều đã nhận giải Nobel cho các công trình nghiên cứu của mình. Đến năm 2002, Sydney Brenner tiếp tục đoạt giải Nobel nhờ công trình tiên phong trong lĩnh vực sinh học phân tử. Ngoài ra, Mark Shuttleworth đã thành lập Thawte, một trong những công ty bảo mật Internet đời đầu.[76]

Nam Phi sở hữu một cộng đồng thiên văn học đang phát triển mạnh mẽ. Đây là nơi đặt Kính thiên văn lớn Nam Phi (SALT), kính thiên văn quang học lớn nhất ở Nam Bán cầu.[77]

Quốc gia này cũng đạt được những bước tiến đáng kể trong công nghệ quân sự. Nam Phi đã tiên phong trong công nghệ chế tạo xe thiết giáp kháng mìn và chống phục kích (MRAP) hiện đại, đặt ra tiêu chuẩn toàn cầu cho việc đối phó với mìn đấtthiết bị nổ tự chế (IED).[78] Trong ngành hàng không, Nam Phi đóng vai trò mở đường cho việc phát triển hệ thống hiển thị trên mũ phi công.[79] Trực thăng tấn công quân sự Denel Rooivalk của nước này cũng là loại trực thăng đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công động tác nhào lộn vòng tròn 360 độ – một kỹ thuật bay mà trước đó vốn được xem là điều bất khả thi.[78]

Du lịch

sửa
Chim cánh cụt châu Phi tại bãi biển Boulders ở Simon's Town trên Bán đảo Cape, Cape Town. Bãi biển này là một địa điểm du lịch nổi tiếng và là nơi sinh sống của một quần thể chim cánh cụt châu Phi bản địa đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp.

Nam Phi là một điểm đến du lịch lớn trên thế giới, ngành du lịch đóng vai trò là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê Nam Phi, tính đến tháng 5 năm 2025, ngành này đóng góp khoảng 3,3% vào tổng sản phẩm quốc nội của đất nước.[80] Ngành du lịch có tầm ảnh hưởng lớn đối với cả thị trường lữ hành nội địa lẫn quốc tế nhờ sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông sâu rộng, ngành dịch vụ lưu trú phát triển mạnh cùng hàng loạt danh lam thắng cảnh tự nhiên và di sản văn hóa phong phú.

Vào năm 2024, Nam Phi ghi nhận lượng du khách tăng trưởng mạnh mẽ, với tổng số lượt khách nhập cảnh qua các cửa khẩu đạt khoảng 8,92 triệu lượt.[81] Quốc gia này tiếp tục khẳng định vị thế quốc tế vào năm 2025 khi được tờ The Telegraph bình chọn là điểm đến du lịch tốt thứ tư toàn cầu, đồng thời xếp vị trí dẫn đầu tại khu vực châu Phi và Ấn Độ Dương.[82]

Theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch Thế giới (WTTC), du lịch đã đóng góp trực tiếp khoảng 102 tỷ Rand vào GDP của Nam Phi trong năm 2012 và duy trì một tỷ trọng lớn trong cơ cấu việc làm của cả nước.[83] Tính đến đầu năm 2025, ngành này tạo việc làm cho khoảng 1,8 triệu người, chiếm 10,3% tổng số lao động toàn quốc.[84] Việc làm trong ngành du lịch trải rộng trên nhiều lĩnh vực như lưu trú, vận tải, dịch vụ ăn uống, bảo tồn và các ngành công nghiệp văn hóa, được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng trong trung hạn.

Nam Phi mang đến cho du khách trong và ngoài nước nhiều sự lựa chọn đa dạng, bao gồm cảnh quan thiên nhiên đẹp như tranh vẽ, các khu bảo tồn động vật hoang dã, nền di sản văn hóa đa dạng và những thương hiệu rượu vang danh tiếng. Các điểm đến phổ biến có thể kể đến nhiều vườn quốc gia, đặc biệt là Vườn quốc gia Kruger rộng lớn ở phía bắc đất nước, dải bờ biển và bãi biển của các tỉnh KwaZulu-NatalWestern Cape, cùng các thành phố lớn như Cape Town, DurbanJohannesburg.

Các quốc gia ngoài khơi xa vốn là nguồn khách du lịch lớn nhất của Nam Phi bao gồm Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức, Hà LanPháp. Trong khi đó, phần lớn du khách từ các nơi khác ở châu Phi đến từ những quốc gia thành viên của Cộng đồng Phát triển Miền Nam Châu Phi (SADC). Trong đó, Zimbabwe là nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 31%, tiếp theo sau là Lesotho, Mozambique, EswatiniBotswana. Bên cạnh đó, Nigeria cũng là một thị trường nguồn quan trọng ngoài khối SADC, chiếm gần 30% lượng du khách châu Phi đến quốc gia này.[85]

Cơ sở hạ tầng

sửa

Giao thông

sửa
Một đoàn tàu Gautrain thuộc hệ thống đường sắt đi lại tốc hành tại Sân bay quốc tế O. R. Tambo, Johannesburg
Hãng hàng không South African Airways (SAA), hãng hàng không quốc gia của Nam Phi, tại Sân bay London Heathrow
Cảng Durban là thương cảng vận tải biển lớn nhất và bận rộn nhất ở vùng châu Phi Hạ Sahara

Quốc gia này sở hữu mạng lưới đường bộ lớn nhất lục địa châu Phi với tổng chiều dài khoảng 750.000 km, đứng thứ 10 trên thế giới.[86] Cơ quan Đường bộ Quốc gia Nam Phi (SANRAL) chịu trách nhiệm quản lý và bảo trì hơn 22.000 km đường quốc lộ, trong khi các tuyến đường còn lại thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền tỉnh và đô thị. Với hơn 12 triệu phương tiện đăng ký giao thông và mật độ đường xá trung bình đạt 16 xe trên mỗi kilômét, các khu vực đô thị tại Nam Phi thường xuyên đối mặt với tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng. Các tuyến đường cao tốc huyết mạch, bao gồm N1, N2, N3, và N4, đóng vai trò kết nối các thành phố trọng điểm, đồng thời là một phần của các tuyến đường xuyên lục địa như Đường cao tốc Cairo–Cape Town. Hiện nay, an toàn giao thông đường bộ vẫn là một thách thức lớn do chất lượng đường xá ở một số khu vực xuống cấp, tình trạng chạy quá tốc độ và công tác thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế.[87]

Nam Phi cũng sở hữu hệ thống đường sắt lớn và phát triển nhất châu Phi, đồng thời xếp thứ 9 trên thế giới với tổng chiều dài mạng lưới đường ray đạt khoảng 30.400 km tính đến năm 2025.[88] Mảng vận tải hàng hóa đường sắt chủ yếu do Transnet Freight Rail nắm giữ — đây là công ty vận tải hàng hóa bằng đường sắt lớn nhất châu Phi và là doanh nghiệp nhà nước lớn thứ hai của quốc gia này; trong khi đó, các dịch vụ tàu chở khách đi lại do Cơ quan Đường sắt Hành khách Nam Phi (PRASA) quản lý.[89][90] PRASA điều hành mạng lưới tàu đô thị Metrorail diện rộng tại các trung tâm thành phố lớn, bao gồm Tuyến phía Nam ở Cape Town, trong khi hệ thống tàu cao tốc hiện đại Gautrain cung cấp dịch vụ kết nối tốc độ cao giữa Johannesburg và Pretoria. Bên cạnh đó, Nam Phi đang nghiên cứu phát triển các tuyến tàu cao tốc thế hệ mới nhằm tăng cường khả năng kết nối quốc gia và khu vực, với tuyến đường đầu tiên dự kiến sẽ được đưa vào vận hành vào năm 2030.[91][92]

Tính đến năm 2025, quốc gia này có tổng cộng 573 sân bay, dẫn đầu châu lục về số lượng sân bay và đứng thứ 13 toàn cầu.[93][94] Đất nước có 4 trung tâm hàng không quốc tế lớn phục vụ nhu cầu đi lại: Sân bay quốc tế O. R. Tambo (Johannesburg), Sân bay quốc tế Cape Town, Sân bay quốc tế King Shaka (Durban), và Sân bay quốc tế Chief Dawid Stuurman (Gqeberha). Trong đó, sân bay O.R. Tambo là sân bay lớn và bận rộn nhất châu Phi với công suất phục vụ hơn 21 triệu lượt hành khách mỗi năm.[95] Vào năm 2025, Sân bay quốc tế Cape Town đã được xếp hạng là sân bay tốt nhất thế giới theo chỉ số đánh giá của hệ thống AirHelp.[96][97] Ngành hàng không Nam Phi sở hữu đội bay đa dạng phân bổ ở các hãng vận tải lớn như South African Airways (SAA), Airlink, FlySafair, CemAir, và LIFT, là thị trường hàng không lớn và phát triển nhất châu lục.[98][99]

Nam Phi sở hữu một trong những ngành hàng hải quan trọng nhất châu Phi, với các cảng thương mại lớn đặt tại Durban, Cape Town, Gqeberha, Vịnh Richards, Vịnh Saldanha và East London. Trong đó, Cảng Durban là cảng container lớn nhất và bận rộn nhất ở khu vực Hạ Sahara, đồng thời là cảng lớn thứ tư ở Nam Bán cầu, xử lý khoảng 4,5 triệu TEU hàng hóa vào năm 2019.[100][101] Cảng Vịnh Richards là một trong những cơ sở xuất khẩu hàng rời lớn nhất châu lục.[102] Cảng Cape Town cũng là trung tâm giao thương lớn phục vụ xuất khẩu, vận tải biển và du lịch bằng du thuyền,[103] trong khi Căn cứ Hải quân Simon's Town gần Cape Town là căn cứ hải quân lớn nhất châu Phi. Đây là căn cứ đầu não của Hải quân Nam Phi, giữ vị trí chiến lược trên Mũi Hảo Vọng giúp kiểm soát tuyến đường thương mại toàn cầu quan trọng, mang lại lợi thế quân sự và địa chính trị to lớn cho Nam Phi.[104] Toàn bộ hoạt động khai thác cảng được quản lý bởi Cơ quan Quản lý Cảng Quốc gia Transnet, đơn vị đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ hệ thống logistics nội địa và thương mại quốc tế.[105]

Năng lượng

sửa
Nằm ở phía bắc thành phố Cape Town, Nhà máy điện hạt nhân Koeberg là cơ sở điện hạt nhân thương mại đầu tiên và duy nhất của châu Phi, cung cấp khoảng 5% sản lượng điện cho Nam Phi.

Nam Phi sở hữu ngành năng lượng lớn và tiên tiến nhất trên lục địa châu Phi, đồng thời là nhà sản xuất điện lớn thứ 22 trên thế giới.[106] Ngành này chịu sự chi phối chủ yếu của công ty điện lực nhà nước Eskom — công ty năng lượng lớn nhất châu Phi và cũng là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Nam Phi. Eskom tạo ra khoảng 90% sản lượng điện toàn quốc từ các nguồn than đá, hạt nhân, thủy điện và năng lượng tái tạo.[107][108] Vào năm 2001, Eskom từng được quốc tế công nhận là một trong những công ty điện lực hàng đầu thế giới.[109] Hệ thống năng lượng của Nam Phi vẫn phụ thuộc nặng nề vào than đá, chiếm khoảng 3/4 sản lượng phát điện và khoảng 70% tổng mức tiêu thụ năng lượng. Nước này là nhà sản xuất than lớn thứ bảy thế giới khi khai thác hơn 200 triệu tấn mỗi năm, đáp ứng khoảng 92% lượng than tiêu thụ trên toàn lục địa châu Phi. Cơ cấu năng lượng phụ thuộc nhiều vào than đá này đã khiến Nam Phi trở thành một trong 15 quốc gia phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới.[110]

Mạng lưới điện quốc gia của Nam Phi có công suất lắp đặt khoảng 60 GW, trong đó các nhà máy nhiệt điện than chiếm khoảng 40–45 GW. Hoạt động phát điện được hỗ trợ bởi một số nhà máy nhiệt điện đốt than thuộc hàng lớn nhất thế giới,[111] tập trung chủ yếu ở các vùng phía đông đất nước; trong đó có Medupi và Kusile đều nằm trong nhóm các nhà máy nhiệt điện than quy mô nhất toàn cầu,[112] bên cạnh các nhà máy Kendal và Majuba.[113] Nhà máy Kusile cũng là nhà máy nhiệt điện đốt than có chi phí xây dựng đắt đỏ nhất từng được thực hiện.[114] Nhằm đa dạng hóa cơ cấu năng lượng, Nam Phi đang vận hành Nhà máy điện hạt nhân Koeberg tại tỉnh Western Cape. Đây là nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên và duy nhất của châu Phi, cung cấp khoảng 5% sản lượng điện quốc gia.[113] Lượng điện bổ sung còn lại được cung cấp bởi các hệ thống thủy điệnthủy điện tích năng, cũng như các nhà máy tua bin khí chu trình mở (OCGT) chạy bằng dầu diesel.[115] Ngoài ra, các nhà sản xuất điện độc lập (IPP) cũng đang đóng góp một tỷ trọng ngày càng tăng vào mạng lưới điện quốc gia, đặc biệt là trong các lĩnh vực điện mặt trời, điện gió và thủy điện.[116]

Khủng hoảng và chuyển dịch năng lượng

sửa
Góc nhìn từ trên cao của nhà máy Khi Solar One, một tháp điện mặt trời và là nhà máy nhiệt điện mặt trời tập trung tại tỉnh Northern Cape, Nam Phi. Đây là nhà máy tháp mặt trời đầu tiên trên lục địa châu Phi, đại diện cho một phần tiến trình chuyển dịch của quốc gia này hướng tới năng lượng tái tạo nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào than đá.

Mặc dù có công suất lắp đặt quy mô lớn, Nam Phi đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng năng lượng kéo dài hơn một thập kỷ qua. Tình trạng này đặc trưng bởi sự mất ổn định của mạng lưới điện và hiện tượng cắt điện luân phiên trên diện rộng, gây đảo lộn đời sống sinh hoạt và làm trì trệ nền kinh tế quốc gia.[117] Việc cắt điện luân phiên được thực hiện thông qua các đợt cắt điện theo lịch trình, thông thường kéo dài từ 2 đến 4 giờ mỗi đợt và đôi khi tổng thời gian mất điện lên tới 12 giờ trong một ngày.[118] Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà máy nhiệt điện than và trở nên trầm trọng hơn do công tác bảo trì yếu kém, các hành vi phá hoại có chủ đích cũng như nạn tham nhũng. Các cuộc điều tra đã phanh phui việc một số nhân viên và quản lý của Eskom tham gia vào các hành vi phá hoại và tham nhũng liên quan đến đấu thầu nhằm trục lợi bất chính, dẫn đến việc các nhà máy liên tục gặp sự cố và làm suy giảm công suất phát điện.[119][120] Các biện pháp can thiệp của chính phủ — bao gồm việc triển khai quân đội để bảo vệ các nhà máy điện chủ chốt,[121] cách chức và bắt giữ những quan chức tham nhũng,[122] đồng thời đẩy mạnh công tác bảo dưỡng — đã giúp ổn định lại hệ thống phát điện và tạm dừng việc cắt điện luân phiên kể từ đầu năm 2024.[123]

Cấp nước và vệ sinh

sửa
Đập Vanderkloof, đập nước lớn thứ 2 tại Nam Phi

Hai đặc trưng nổi bật của ngành nước Nam Phi là chính sách miễn phí nước sinh hoạt cơ bản và sự tồn tại của các hội đồng nước (water boards) — đây là các đơn vị cung ứng nước bán buôn chịu trách nhiệm vận hành đường ống và bán nước từ các hồ chứa cho các đô thị. Những đặc điểm này đã dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến tính bền vững về mặt tài chính của các nhà cung cấp dịch vụ, kéo theo hệ lụy là công tác bảo trì không được chú trọng đúng mức. Sau khi chế độ phân biệt chủng tộc apartheid sụp đổ, quốc gia này đã cải thiện đáng kể tỷ lệ người dân tiếp cận với nguồn nước sạch, tăng từ 66% năm 1990 lên 79% vào năm 2010.[124] Tỷ lệ tiếp cận với hệ thống vệ sinh cũng tăng từ 71% lên 79% trong cùng thời kỳ.[124] Tuy nhiên, hệ thống cấp nước và vệ sinh đang phải chịu áp lực ngày càng lớn trong những năm gần đây, bất chấp những cam kết của chính phủ trong việc nâng cao tiêu chuẩn dịch vụ và cung cấp các khoản trợ cấp đầu tư cho ngành nước.[125]

Các vùng phía đông của Nam Phi thường xuyên phải gánh chịu các đợt hạn hán định kỳ liên quan đến hiện tượng thời tiết El Niño.[126] Vào đầu năm 2018, thành phố Cape Town — nơi có mô hình thời tiết hoàn toàn khác biệt so với phần còn lại của đất nước[126] — đã đối mặt với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng khi nguồn cung cấp nước của thành phố được dự báo sẽ cạn kiệt trước cuối tháng 6. Các biện pháp tiết kiệm nước đã được áp dụng nghiêm ngặt, yêu cầu mỗi người dân sử dụng ít hơn 50 lít (13 gal Mỹ) nước mỗi ngày.[127] Đáng chú ý, chính quyền Cape Town đã từ chối lời đề nghị hỗ trợ xây dựng các nhà máy khử muối nước biển từ phía Israel.[128][129][130][131]

Viễn thông

sửa
Một trạm phát sóng 5G tại Johannesburg, Nam Phi. Quốc gia này đã trở thành nước đầu tiên ở châu Phi triển khai dịch vụ 5G vào năm 2019.

Nam Phi sở hữu ngành viễn thông tiên tiến nhất châu Phi, được đặt dưới sự quản lý của Cơ quan Truyền thông Độc lập Nam Phi (ICASA).[132] Quốc gia này đóng vai trò là trung tâm kết nối kỹ thuật số quan trọng của khu vực nhờ được hỗ trợ bởi nhiều hệ thống cáp quang ngầm dưới biển lớn như WACS, SAT-3, Seacom2Africa để kết nối Nam Phi với mạng lưới toàn cầu.[133] Tỷ lệ phổ cập điện thoại di động tại đây thuộc hàng cao nhất châu lục và việc tiếp cận Internet đang tiếp tục mở rộng nhanh chóng tại cả khu vực thành thị lẫn nông thôn.[132]

Thị trường thông tin di động được dẫn dắt bởi các nhà mạng lớn của Nam Phi bao gồm Vodacom, MTN, Telkom, Cell CRain. Trong đó, MTN nổi lên là nhà mạng di động lớn nhất châu Phi và nằm trong top 10 toàn cầu với gần 290 triệu người dùng tính đến năm 2022.[134] Nam Phi cung cấp toàn diện các công nghệ mạng từ 2G cho đến 5G, trong đó các nhà mạng MTN, Vodacom và Rain là những đơn vị đầu tiên triển khai dịch vụ 5G tại lục địa châu Phi.[135][136] Mặc dù kết nối điện thoại cố định có sự sụt giảm, mạng băng thông rộng cáp quang lại đang tăng trưởng nhảy vọt thông qua các nhà cung cấp như Openserve, Vumatel, Frogfoot, OctotelMetroFibre.[137] Dịch vụ Internet vệ tinh vẫn luôn sẵn sàng phục vụ các vùng sâu vùng xa, mặc dù mạng lưới Starlink hiện vẫn chưa thể triển khai tại thị trường nội địa do các rào cản về mặt quy định pháp lý.[138]

Nhân khẩu

sửa
Mật độ dân số của Nam Phi
  •   <1 /km2
  •   1–3 /km2
  •   3–10 /km2
  •   10–30 /km2
  •   30–100 /km2
  •   100–300 /km2
  •   300–1000 /km2
  •   1000–3000 /km2
  •   >3000 /km2

Nam Phi là một quốc gia đa văn hóa, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo. Năm 2022, dân số của Nam Phi ước tính là 62 triệu người.[41] Năm 1950, dân số của Nam phi là 13,6 triệu người.[139] Ngoài ra, ước tính có năm triệu người nhập cư bất hợp pháp đang sinh sống tại Nam Phi bao gồm ba triệu người Zimbabwe.[140][141][142]

Dân tộc và chủng tộc

sửa

Theo kết quả điều tra dân số năm 2022, 81% dân số của Nam phi là người Bantu, 8,2% là người da màu, 7,3% là người da trắng, 2,7% là người gốc Ấn và 0,5% là dân tộc khác hoặc không xác định dân tộc.[9] Người da trắng từng chiếm 22% dân số vào năm 1911 nhưng đã giảm xuống 16% vào năm 1980.[143]

Đa số dân cư tự xếp loại mình là người châu Phi hay người da đen, nhưng về văn hóa hay ngôn ngữ không có sự đồng nhất. Các nhóm sắc tộc chính gồm Zulu, Xhosa, Basotho (Nam Sotho), Bapedi (Bắc Sotho), Venda, Tswana, Tsonga, SwaziNdebele, tất cả các nhóm đó đều sử dụng các ngôn ngữ Bantu (xem Các sắc tộc Bantu tại Nam Phi).

Một số sắc tộc, như Zulu, Xhosa, Bapedi và các nhóm Venda, là duy nhất chỉ hiện diện tại Nam Phi. Các nhóm khác sinh sống tại cả các quốc gia láng giềng khác: nhóm Basotho cũng là một nhóm sắc tộc lớn tại Lesotho. Nhóm thiểu số Tswana chiếm đa số dân cư của Botswana. Nhóm sắc tộc Swazi là nhóm chính tại Eswatini. Nhóm Ndebele cũng hiện diện tại MatabelelandZimbabwe, nơi họ được gọi là người Matabele. Tuy nhiên, những nhóm sắc tộc Ndebele đó trên thực tế là người Zulu bởi họ nói tiếng Zulu và là con cháu của một nhóm chiến binh Mzilikazi đã bỏ trốn khỏi sự ngược đãi của Shaka khi di cư tới vùng đất hiện tại của họ. Nhóm sắc tộc Tsonga cũng có mặt ở miền nam Mozambique, nơi họ được gọi là Shangaan.

Dân cư da trắng chủ yếu là con cháu của những người di cư thời thuộc địa: Hà Lan, Đức, Pháp Huguenot, và Anh. Về mặt văn hóa và ngôn ngữ, họ được chia thành nhóm người Hà Lan Nam Phi, nói tiếng Hà Lan Nam Phi, và các nhóm nói tiếng Anh, nhiều người trong số họ là con cháu của những người Anh di cư (xem Người Anh châu Phi). Nhiều cộng đồng nhỏ đã di cư tới đây trong thế kỷ qua vẫn giữ ngôn ngữ của họ. Người da trắng đang giảm sút bởi tỷ lệ sinh thấp và tình trạng di cư; một nguyên nhân dẫn tới quyết định ra đi của họ có thể là tỷ lệ tội phạm cao và các chính sách hành động khẳng định (affirmative action) của chính phủ. Trong thập kỷ đầu tiên sau khi đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC) lên nắm quyền, một triệu người da trắng đã bỏ nước ra đi [144][145][146][147]

Thuật ngữ "Người da màu" vẫn được sử dụng nhiều để chỉ những người lai con cháu của những nô lệ được mua về từ Đông và Trung Phi, người bản xứ Khoisan những người đã sống tại Cape ở thời điểm đó, những người da đen châu Phi bản xứ, người da trắng (chủ yếu là người Hà Lan/người Hà Lan Nam Phi và những người định cư Anh) cũng như sự lai tạp giữa người Nhật, Malay, Ấn Độ, Malagasy và những nhóm người Âu khác (như người Bồ Đào Nha) và người có dòng máu châu Á (như Miến Điện). Đa số họ nói tiếng Hà Lan Nam Phi. Khoisan là thuật ngữ dùng để miêu tả hai nhóm riêng biệt, về hình thể giống nhau ở chỗ họ cùng có nước da sáng và nhỏ người. Người Khoikhoi, những người từng được người Châu âu gọi là Hottentots, là những chủ trại chăn nuôi và đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn; người San, được người châu Âu gọi là thổ dân, là những người săn bắn hái lượm. Bên trong cái hiện được gọi là cộng đồng da màu, những người nhập cư gần đây hơn cũng có mặt: người da màu từ Rhodesia cũ (hiện là Zimbabwe) và Namibia và những người nhập cư có dòng máu lai từ Ấn Độ và Myanma (Anh-Ấn/Anh-Miến) những người đã được chào đón tới Cape khi Ấn Độ và Miến Điện giành lại độc lập.

Đa phần dân cư người Châu Á tại Nam Phi có nguồn gốc Ấn Độ (xem người Ấn Độ Nam Phi), nhiều người trong số họ là con cháu của những lao động giao kèo được đưa tới đây từ thế kỷ mười chín để làm việc trên những cánh đồng mía vùng bờ biển phía đông khi ấy còn được gọi là Natal. Cũng có một nhóm khá đông người Trung Quốc Nam Phi (xấp xỉ 100.000 người) và người Việt Nam Nam Phi (xấp xỉ 50.000 người).

Y tế

sửa

Năm 2009, tuổi thọ trung bình tại Nam Phi là 71 tuổi đối với người da trắng và 48 tuổi đối với người da đen.[148] Tổng số chi tiêu về y tế của Nam Phi đạt 9% GDP vào năm 2013.[149] 84% dân số phụ thuộc vào hệ thống y tế công lập thiếu nhân lực, nguồn lực,[149][150] trong khi 20% dân số sử dụng các dịch vụ y tế tư nhân.[151]

HIV/AIDS

sửa
Tuổi thọ trung bình tại một số quốc gia châu Phi, 1950–2019..

Theo báo cáo của Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS, Nam Phi ước tính có bảy triệu người mắc HIV vào năm 2015 – nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.[152] Năm 2018, tỷ lệ người nhiễm HIV từ 15–49 tuổi đạt 20,4% và 71.000 người tử vong vì biến chứng liên quan đến AIDS.[153]

Như nhiều quốc gia châu Phi khác, sự lan tràn của AIDS là một vấn đề đáng báo động tại Nam Phi với 31% số phụ nữ có thai bị phát hiện nhiễm HIV năm 2005 và tỷ lệ nhiễm trong người trưởng thành ước tính 20%.[154] Sự liên quan giữa HIV, một loại virus truyền chủ yếu qua con đường quan hệ tình dục, và AIDS từ lâu đã bị tổng thống và bộ trưởng y tế bác bỏ, họ nhấn mạnh rằng nhiều trường hợp tử vong trong nước do nguyên nhân thiếu dinh dưỡng, và vì thế do tình trạng nghèo khổ, chứ không phải do HIV.[155] Gần đây, sau nhiều lần trì hoãn, chính phủ đã cung cấp những nguồn tài nguyên cần thiết để chiến đấu với dịch bệnh này.

AIDS ảnh hưởng chủ yếu tới những người thường xuyên có quan hệ tình dục, có nghĩa là nhân khẩu học Nam Phi đang thay đổi chậm. Đa số trường hợp tử vong là những người đang ở độ tuổi lao động, dẫn tới tình trạng nhiều gia đình mất đi nguồn thu nhập chính. Điều này đưa đến tình trạng các 'trẻ mồ côi AIDS' trong nhiều trường hợp phải sống dựa vào sự chăm sóc và tài chính từ chính phủ.[156] Ước tính có 1.100.000 trẻ mồ côi tại Nam Phi.[156] Nhiều người già cũng mất sự hỗ trợ từ các thành viên trẻ trong gia đình.

Sở Y tế tuyên bố ngày 25 tháng 4 năm 2007 rằng đã có sự sụt giảm đáng kể tới 65% số ca mắc bệnh sốt rét trong nước. Số lượng tử vong vì căn bệnh này giảm 73%.[157]

Tôn giáo

sửa

Tôn giáo tại Nam Phi (điều tra dân số năm 2022[9])

  Kitô giáo (85.3%)
  Hồi giáo (1.6%)
  Ấn Độ giáo (1.1%)
  Tôn giáo khác (1.1%)

Theo kết quả điều tra dân số năm 2022, 85,3% dân số theo Kitô giáo, trong đó đa số theo các hệ phái Tin Lành (bao gồm các giáo hội khởi nguồn tại châu Phi nguyên hợp), thiểu số theo Công giáo và những hệ phái khác. 1,6% dân số theo Hồi giáo, 1,1% dân số theo Ấn Độ giáo, 7,8% dân số theo các tôn giáo châu Phi truyền thống, 3,1% dân số không theo tôn giáo, 1,1% theo tôn giáo khác.[158][159][160][161]

Nhà thờ Bản xứ Nam Phi là những nhóm Kitô giáo lớn nhất. Mọi người cho rằng nhiều người trong số những người tự cho là không theo tôn giáo nào có tham gia các tôn giáo bản xứ truyền thống. Nhiều người theo cả Kitô giáo và các tôn giáo bản xứ truyền thống.[162]

Hồi giáo tại Nam Phi có thể xuất hiện từ trước thời thuộc địa, và không có liên quan với những thương nhân Ả RậpĐông Phi.[cần dẫn nguồn] Nhiều người Hồi giáo Nam Phi được miêu tả là người da màu, chủ yếu tập trung tại Tây Cape, gồm cả những người có tổ tiên là những nô lệ tới từ quần đảo Indonesia (Cape Malays). Những người khác được cho là người Ấn Độ, chủ yếu tại Kwazulu-Natal, gồm cả những người có tổ tiên là những thương nhân tới từ Nam Á; nhóm này còn gồm những người khác từ khắp nơi trên lục địa Châu Phi cũng như những người da trắng, da đen cải đạo. Có một vài ngôi chùa Phật giáo tại Nam Phi, đa số là các ngôi chùa Trung Hoa, mà nổi tiếng nhất là Fo Guang Shang Nan Hoa Temple, nằm trong khu phố của những người Hoa định cư tại đó

Ngôn ngữ

sửa
Bản đồ các ngôn ngữ của Nam Phi theo khu vực

Nam Phi có 11 ngôn ngữ chính thức: Tiếng Afrikaans, Tiếng Anh, Ndebele, Bắc Sotho, Nam Sotho, Swati, Tsonga, Tswana, Venda, XhosaZulu.[163] Về số lượng Nam Phi chỉ đứng sau Ấn Độ. Tuy trên lý thuyết các ngôn ngữ đều tương đương nhau, một số ngôn ngữ có số người sử dụng đông hơn.

Theo cuộc điều tra dân số quốc gia năm 1996, ba ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất tại gia đình là Zulu (9.2 triệu), Xhosa (7.2 triệu) và Tiếng Afrikaans (5.8 triệu). Ba ngôn ngữ được dùng tại gia đình như ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh (2.2 triệu), tiếng Hà Lan Nam Phi (1.1 triệu) và Zulu (0.5 triệu). Bốn ngôn ngữ được dùng nhiều nhất tại gia đình là Zulu (9.8 triệu), Xhosa (7.5 triệu), tiếng Hà Lan Nam Phi (6.9 triệu) và tiếng Anh (5.7 triệu). Cuộc điều tra dân số năm 1996 không lấy thông tin về các ngôn ngữ được sử dụng bên ngoài gia đình.[164]

mười một tên chính thức để gọi Nam Phi, mỗi tên theo một ngôn ngữ chính thức quốc gia.

Nam Phi cũng công nhận tám ngôn ngữ không chính thức: Fanagalo, Khoe, Lobedu, Nama, Miền Bắc Ndebele, Phuthi, SanNgôn ngữ Ký hiệu Nam Phi. Những ngôn ngữ không chính thức này có thể được sử dụng chính thức trong một số thời điểm ở một số vùng hạn chế nơi đã được xác nhận rằng chúng chiếm ưu thế. Tuy thế, số dân sử dụng ngôn ngữ này chưa đủ lớn để được công nhận là ngôn ngữ chính thức quốc gia.

Nhiều trong số "ngôn ngữ không chính thức" của người SanKhoikhoi chứa những thổ ngữ vùng kéo dài tới tận Namibia và Botswana, và nước khác. Những sắc tộc đó, về mặt thể chất có khác biệt với người châu Phi, có nền văn hóa riêng dựa trên các cơ cấu xã hội săn bắn hái lượm. Họ sống khá cách biệt, và nhiều ngôn ngữ đang gặp nguy cơ tuyệt chủng.

Nhiều người da trắng Nam Phi cũng sử dụng các ngôn ngữ Châu Âu khác, như tiếng Bồ Đào Nha (cũng được người da đen Angola và Mozambique sử dụng), tiếng Đức, và tiếng Hy Lạp, tuy nhiều người châu ÁẤn Độ tại Nam Phi sử dụng các ngôn ngữ Nam Á, như Telugu, Hindi, GujaratTamil.

Giáo dục

sửa
Đại học Cape Town

Năm 2025, tỷ lệ biết chữ của Nam Phi đạt 95%, cao thứ hai ở châu Phi sau Seychelles.[165]

Tội phạm

sửa

Tội phạm tiếp tục là một vấn đề lớn tại Nam Phi. Theo một cuộc điều tra cho giai đoạn 1998–2000 do Liên hiệp quốc tiến hành, Nam Phi được xếp hạng thứ hai về các vụ tấn công và giết người (bằng tất cả phương tiện) trên đầu người, ngoài ra Nam Phi cũng bị xếp hạng thứ hai về các vụ hãm hiếp và số một về số vụ hãm hiếp trên đầu người.[166] Tổng tội phạm trên đầu người đứng thứ mười trên tổng số sáu mươi quốc gia được nghiên cứu. Vì thế tình trạng tội phạm đã có ảnh hưởng trên xã hội: nhiều người giàu có tại Nam Phi đã chuyển vào sống tại các khu an ninh cao, rời những quận kinh doanh tại một số thành phố có tỷ lệ tội phạm cao. Hiệu ứng này thấy rõ nhất tại Johannesburg, dù khuynh hướng này cũng dễ dàng nhận thấy tại các thành phố khác. Nhiều người di cư khỏi Nam Phi cũng bình luận rằng tội ác là một lý do chính thúc đẩy họ ra đi. Tội ác chống lại cộng đồng nông dân tiếp tục là một vấn đề lớn.[167]

Văn hoá

sửa
Nhà tù trên Đảo Robben, nơi giam giữ nhiều chiến sĩ chống chủ nghĩa apartheid gồm cả Nelson Mandela, người đã bị giam tại đây mười tám năm. Đảo Robben hiện là một Địa điểm di sản thế giới của UNESCO
Nhà trang trí, Núi Drakensberg

Có thể cho rằng không chỉ có "một" nền văn hóa tại Nam Phi vì sự đa dạng sắc tộc của nó. Ngày nay, sự đa dạng thực phẩm từ nhiều nền văn hóa được nhiều người thưởng thức, đặc biệt là những khách du lịch muốn khám phá sự phong phú trong ẩm thực Nam Phi. Ngoài thực phẩm, âm nhạcnhảy múa cũng là đặc điểm nổi bật.

Ẩm thực Nam Phi sử dụng chủ yếu nguyên liệu thịt và sở hữu một món ăn đặc trưng riêng của xã hội Nam Phi trong những dịp lễ lạt được gọi là braai, hay thịt nướng. Nam Phi cũng đã phát triển trở thành một quốc gia sản xuất rượu lớn, với một số vườn nho thuộc loại tốt tại các thung lũng quanh Stellenbosch, Franschoek, PaarlBarrydale.[168]

Nam Phi sở hữu nhiều phong cách âm nhạc. Nhiều nhạc công da đen biểu diễn bằng tiếng Hà Lan Nam Phi hay tiếng Anh trong thời kỳ apartheid đã chuyển sang sử dụng các ngôn ngữ châu Phi truyền thống, và phát triển một phong cách âm nhạc riêng biệt được gọi là Kwaito. Một người đáng chú ý là Brenda Fassie với bài hát "Weekend Special", biểu diễn bằng tiếng Anh. Nhiều nhạc công truyền thống gồm Ladysmith Black Mambazo, còn Soweto String Quartet trình diễn nhạc cổ điển với hương vị châu Phi. Các ca sĩ da trắng và da màu Nam Phi theo truyền thống thường có ảnh hưởng từ các phong cách âm nhạc châu Âu gồm cả ban nhạc metal phương Tây như Seether. Âm nhạc sử dụng tiếng Hà Lan Nam Phi có nhiều kiểu, như hiện đại với Steve Hofmeyrpunk rock với ban nhạc Fokofpolisiekar. Các nghệ sĩ đa phong cách như Johnny Clegg và các ban nhạc Juluka, Savuka đã đạt nhiều thành công trong nước và tại nước ngoài.

Cộng đồng đa số người da đen trong nước với số lượng đông đảo tại các vùng nông thôn chủ yếu vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Tuy nhiên, chính trong những cộng đồng này, các truyền thống văn hóa đang tồn tại mạnh mẽ nhất; bởi những người da đen cũng đang trải quá quá trình đô thị hoátây Phương hoá ngày càng nhanh, nhiều nét văn hóa truyền thống đang mai một. Những người da đen sống tại đô thị thường sử dung tiếng Anh hay tiếng Hà Lan Nam Phi ngoài tiếng mẹ đẻ của họ. Có những nhóm nhỏ hơn nhưng vẫn rất đáng chú ý những người sử dụng các ngôn ngữ Khoisan, tuy không phải là ngôn ngữ chính thức, nhưng cũng được xếp hạng là một trong tám ngôn ngữ không chính thức. Có các nhóm nhỏ khác sử dụng các ngôn ngữ đang gặp nguy hiểm, đa số chúng thuộc ngữ hệ Khoi-San, và không được chính thức ghi nhận; tuy nhiên, một số nhóm ngôn ngữ bên trong Nam Phi đang tìm cách phổ biến sự sử dụng ngôn ngữ đó giúp chúng tồn tại.

Phong cách sống của tầng lớp trung lưu, chủ yếu là thiểu số người da trắng nhưng số lượng người da đen, người da màu và người Ấn Độ thuộc tầng lớp này cũng đáng kể, tương tự nhau về nhiều phương diện với tầng lớp trung lưu tại Tây Âu, Bắc MỹAustralasia. Các thành viên tầng lớp trung lưu thường học tập và làm việc tại nước ngoài để có cơ hội tiếp cận sâu hơn với các thị trường thế giới.

Dù tình trạng phân biệt chủng tộc rất sâu sắc thời chế độ apartheid, người da màu thường có xu hướng tiếp cận văn hóa da trắng Nam Phi hơn là văn hóa da đen Nam Phi, đặc biệt là những người da màu nói tiếng Hà Lan Nam Phi, những người mà ngôn ngữ và đức tin tôn giáo của họ tương đồng hay đồng nhất với những người Nam Phi gốc Hà Lan. Những ngoại lệ là những người da màu và các dòng họ đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa apartheid và muốn được gọi là người da đen. Những trường hợp đó thường chỉ chiếm thiểu số.

người châu Á, chủ yếu có nguồn gốc Ấn Độ, gìn giữ di sản văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo của riêng họ, họ có thể là tín đồ Kitô giáo, Hindu giáo hay Hồi giáo Sunni và nói tiếng Anh cùng các ngôn ngữ Ấn Độ như Hindi, Telugu, Tamil hay Gujarati. Đa số người Ấn Độ sống theo phong cách tương tự người da trắng. Những người Ấn Độ đầu tiên tới Nam Phi trên con tàu Truro với tư cách nhân công giao kèo tại Natal để làm việc trên những cánh đồng mía. Có một cộng đồng người Trung Quốc nhỏ tại Nam Phi, dù số lượng của họ đã tăng thêm với số người nhập cư từ Trung Hoa Dân Quốc.

Nam Phi cũng có ảnh hưởng khá lớn trên phong trào Hướng đạo sinh, nhiều truyền thống và lễ hội Hướng đạo sinh xuất phát từ những trải nghiệm của Robert Baden-Powell (người thành lập Hướng đạo sinh) trong thời gian ông sống tại Nam Phi với tư cách sĩ quan quân sự trong thập niên 1890. Hiệp hội Hướng đạo sinh nam Phi là một trong những tổ chức thanh niên đầu tiên mở cửa chấp nhận thành viên từ mọi sắc tộc tại Nam Phi. Sự việc này xảy ra ngày 2 tháng 7 năm 1977 tại một hội nghị được gọi là Quo Vadis.[169]

Truyền thông

sửa

Nam Phi có một hệ thống truyền thông lớn, tự do và năng động thường xuyên lên tiếng chỉ trích chính phủ, một thói quen đã được hình thành từ thời kỳ apartheid khi báo chí và phương tiện truyền thông là khu vực ít bị chính phủ kiểm soát nhất. Đa số các vụ bê bối lớn nổ ra khi báo chí thông báo trách nhiệm tham nhũng đã được chứng minh là đúng trong những trường hợp như của Schabir Shaik, theo đó vị phó tổng thống (khi ấy) là Jacob Zuma đã có dính líu, và những cáo buộc tham nhũng dẫn tới sự sa thải Winnie Mandela khỏi nghị viện. Lập trưởng của chính phủ về cuộc bầu cử nghị viện Zimbabwe năm 2005 và đại dịch AIDS cũng thường được báo chí đề cập.

Thậm chí khi hiện tại Nam Phi đang sở hựu mạng lưới truyền thông lớn nhất châu Phi, đây là một trong những nước cuối cùng trên thế giới cho phép truyền hình sử dụng hình ảnh màu bắt đầu từ năm 1975. Tới cuối thời kỳ apartheid năm 1994, các mạng lưới truyền hình đã phủ sóng toàn bộ các khu vực đô thị và một số vùng ít dân cư hơn, trong khi các mạng lưới đài phát thanh hầu như đã phủ sóng khắp nước.

Trong thời kỳ Apartheid đa số các đài truyền hình thương mại và tất cả đài phát thanh công cộng đều thuộc sự điều khiển của Liên đoàn Truyền hình Nam Phi (SABC), và là đối tượng kiểm soát và kiểm duyệt gắt gao của chính phủ, với chỉ một số nhỏ đài truyền hình địa phương độc lập được cho phép hoạt động. Việc thành lập khu quê hương độc lập của người da đen (hay Bantustan) trong thập niên 1970 đã cho phép các đài phát thanh và truyền hình được thành lập bên ngoài sự kiểm soát của Chính phủ apartheid. Sau khi chế độ này bị bãi bỏ, ngành công nghiệp truyền hình được điều chỉnh lại với việc thương mại hóa nhiều đài phát thuộc Liên đoàn truyền hình Nam Phi và việc tư nhân hóa các đài phát thuộc Bantustan trước đây và bán cho các công ty và các consortiums với sở hữu đa số của người da đen. Các kênh truyền hình của SABC hiện đang hoạt động.

Một kênh truyền hình bằng ngôn ngữ châu Phi đã được SABC thành lập năm 1981 (trong thời kỳ apartheid) với một kênh tiếng châu Phi nữa sau một thập kỷ. Sự độc quyền truyền hình của SABC cuối cùng đã bị đe dọa năm 1986 khi một mạng lưới truyền hình tư nhân M-Net được triển khai. M-Net đã bị cấm điều hành hoạt động thông tin.

Nam Phi hiện có hai mạng lưới truyền hình mặt đất tự do phát sóng (SABC và e.tv), một mạng lưới truyền hình mặt đất theo thuê bao (M-Net), cũng như có khả năng thu truyền hình vệ tinh (DStv) do bên sở hữu M-Net là Multichoice điều hành. e.tv được cho phép hoạt động như một kênh cung cấp thông tin độc lập. SABC phát sóng các kênh tin tức và giải trí trên khắp châu Phi qua vệ tinh.

Thể thao

sửa

Thể thao đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền văn hóa Nam Phi, trong đó các bộ môn phổ biến nhất tại quốc gia này là bóng đá, bóng bầu dục liên hiệp (rugby union) và cricket.[170] Những môn thể thao khác cũng nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt từ công chúng bao gồm bơi lội, Điền kinh, golf, quyền Anh, võ thuật tổng hợp, quần vợt, ringball, khúc côn cầu trên cỏ, lướt ván.[171]

Bóng đá là môn thể thao đại chúng nhất tại Nam Phi.[172][173][174] Quốc gia này từng là chủ nhà của Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 (FIFA World Cup).[175] Nam Phi cũng đăng cai Cúp bóng đá châu Phi 1996đội tuyển quốc gia nước này (biệt danh là Bafana Bafana) đã xuất sắc giành chức vô địch giải đấu năm đó. Đội tuyển U-20 nam Nam Phi đã giành ngôi vương tại Giải vô địch bóng đá U-20 châu Phi 2025. Vào năm 2022, đội tuyển nữ quốc gia cũng đăng quang tại Cúp bóng đá nữ châu Phi 2022 sau khi đánh bại Ma-rốc với tỷ số 2–1 trong trận chung kết. Đội tuyển nữ sau đó tiếp tục tiến vào vòng 16 đội tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 nhờ chiến thắng trước Ý và trận hòa kịch tính với Argentina ở vòng bảng.

Những gương mặt nổi bật trong làng thể thao đối kháng có thể kể đến "Baby Jake" Jacob Matlala, Vuyani Bungu, Welcome Ncita, Dingaan Thobela, Corrie Sanders, Gerrie Coetzee, Brian Mitchell, Garreth McLellan và đương kim Vô địch hạng trung UFC Dricus du Plessis. Vận động viên lướt ván người Durban là Jordy Smith đã giành chiến thắng tại giải Billabong J-Bay Open 2010, đưa anh trở thành tay lướt ván có thứ hạng cao nhất thế giới tại thời điểm đó. Trong môn đua xe thể thao, Nam Phi đã sản sinh ra nhà vô địch thế giới Formula One năm 1979 là Jody Scheckter. Những tay đua nổi tiếng đang thi đấu tại Grand Prix mô tô bao gồm Brad Binder và người em trai Darryn Binder.

Diễu hành ăn mừng khắp đất nước sau khi giành chức vô địch Giải vô địch bóng bầu dục thế giới 2019

Nam Phi đã giành chức vô địch Giải vô địch bóng bầu dục thế giới (Rugby World Cup) tổng cộng bốn lần — thành tích cao nhất đối với một quốc gia trong lịch sử giải đấu này. Lần đầu tiên Nam Phi đăng quang là tại Giải vô địch bóng bầu dục thế giới 1995 do chính họ làm chủ nhà. Sau đó, họ tiếp tục khẳng định thế độc tôn khi lên ngôi vô địch vào các năm 2007, 2019 và 2023.[176]

Cricket là một trong những môn thể thao được chơi nhiều nhất tại Nam Phi. Quốc gia này từng đăng cai Giải vô địch Cricket thế giới 2003 (Cricket World Cup) và Giải vô địch thế giới Twenty20 năm 2007. Đội tuyển cricket nam quốc gia (biệt danh là Proteas) đã giành chức vô địch trong mùa giải đầu tiên của ICC KnockOut Trophy 1998 sau khi đánh bại đội tuyển Tây Ấn trong trận chung kết

Vào năm 2004, đội tuyển bơi lội gồm các vận động viên Roland Schoeman, Lyndon Ferns, Darian TownsendRyk Neethling đã giành huy chương vàng tại Đại hội Thể thao Olympic ở Athens, đồng thời phá kỷ lục thế giới ở nội dung bơi tiếp sức 4×100m tự do. Penny Heyns từng giành Huy chương vàng Olympic tại Olympic Atlanta 1996. Trong những năm gần đây, các kình ngư và vận động viên điền kinh như Tatjana Smith (họ gốc là Schoenmaker), Lara van Niekerk, Akani SimbineWayde van Niekerk đều liên tục phá vỡ các kỷ lục và mang về nhiều huy chương tại cả đấu trường Olympic lẫn Đại hội Thể thao Khối Thịnh vượng chung. Trong đó, Wayde van Niekerk là người nắm giữ kỷ lục thế giới ở nội dung chạy 400 mét kể từ năm 2016. Vào năm 2012, Oscar Pistorius đã trở thành vận động viên điền kinh cụt cả hai chân đầu tiên trong lịch sử tham gia tranh tài trực tiếp tại Đại hội Thể thao Olympic ở London. Trong bộ môn golf, huyền thoại Gary Player được ca tụng là một trong những gôn thủ vĩ đại nhất mọi thời đại khi đã hoàn thành trọn bộ danh hiệu Career Grand Slam — và ông là một trong năm người duy nhất trên thế giới lập được kỳ tích này.[177]

Xem thêm

sửa

Tham khảo

sửa
  1. "Constitution Eighteenth Amendment Act". Act số 47665 2023 (bằng tiếng Anh và Tswana). Quyển 697. Parliament of the Republic of South Africa.
  2. 1 2 3 "South Africa at a glance". South African Government. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2020.
  3. "Principal Agglomerations of the World". City Population. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
  4. 1 2 The Constitution of the Republic of South Africa (PDF) . Constitutional Court of South Africa. 2013. ch. 1, s. 6. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2020.
  5. "The NA Approves South African Sign Language as the 12th Official Language". Parliament of South Africa. ngày 3 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  6. Mitchley, Alex. "SA's population swells to 62 million - 2022 census at a glance". News24 (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2023.
  7. "Statistical Release - Census 2022" (PDF). statssa.gov.za. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2024.
  8. "Census 2022 – Statistical Release" (PDF). www.gov.za. Government of South Africa. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  9. 1 2 3 "Census 2022 Statistical Release" (PDF). Statistics South Africa. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  10. 1 2 3 4 "World Economic Outlook Database, April 2024 Edition. (South Africa)". www.imf.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 16 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2024.
  11. "Gini Index". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
  12. "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  13. "Data Source Comparison for en-ZA". www.localeplanet.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2021.
  14. "Data Source Comparison for af-ZA". www.localeplanet.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2021.
  15. "The text". www.concourt.org.za. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  16. South African Sign Language is also an official language
  17. "South Africa". Human Development Report. United Nations Development Programme. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  18. "Ridicule succeeds where leadership failed on AIDS". South African Institute of Race Relations. ngày 10 tháng 11 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  19. "World Fact Book". CIA. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  20. "Coldest Place in South Africa". Weather SA. ngày 30 tháng 6 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  21. SouthAfrica.info: South Africa's geography
  22. Plants and Vegetation in South Africa, South Africa Online Travel Guide.
  23. South African National Biodiversity Institute.
  24. Scorched Lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine: South Africa’s changing climate.
  25. Akinwotu, Emmanuel (ngày 1 tháng 6 năm 2024). "In a historic election, South Africa's ANC loses majority for the first time". NPR. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  26. Usher, Barbara Plett (ngày 14 tháng 6 năm 2024). "A landmark moment in South Africa for a humbled ANC". BBC. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  27. "Chapter 4 – Parliament". ngày 19 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2013.
  28. Alexander, Peter (ngày 27 tháng 3 năm 2012). "Protests and Police Statistics: Some Commentary". Amandla. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024.
  29. Buccus, Imraan (ngày 27 tháng 8 năm 2007). "Mercury: Rethinking the crisis of local democracy". Abahlali.org. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
  30. J. Duncan (ngày 31 tháng 5 năm 2010). "The Return of State Repression". South African Civil Society Information Services. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  31. "Increasing police repression highlighted by recent case". Freedom of Expression Institute. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  32. "South Africa's recent performance in the Ibrahim Index of African Governance". Mo Ibrahim Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  33. "SA marriage law signed". BBC News. ngày 30 tháng 11 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  34. Wines, Michael (ngày 2 tháng 12 năm 2005). "Same-Sex Unions to Become Legal in South Africa". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018.
  35. Rosalind Rosenberg (Summer 2001). "Virginia Gildersleeve: Opening the Gates (Living Legacies)". Columbia Magazine.
  36. Schlesinger, Stephen E. (2004). Act of Creation: The Founding of the United Nations: A Story of Superpowers, Secret Agents, Wartime Allies and Enemies, and Their Quest for a Peaceful World. Cambridge, Massachusetts: Westview, Perseus Books Group. tr. 236–7. ISBN 978-0-8133-3275-8.
  37. "China, South Africa upgrade relations to "comprehensive strategic partnership"". Capetown.china-consulate.org. ngày 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  38. "New era as South Africa joins BRICS". Southafrica.info. ngày 11 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  39. "SA brings 'unique attributes' to BRICS". Southafrica.info. ngày 14 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  40. Stats in Brief, 2010 (PDF). Pretoria: Statistics South Africa. 2010. tr. 3. ISBN 978-0-621-39563-1. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2011.
  41. 1 2 "2022 Census Statistical Release" (PDF). Statistics South Africa. ngày 15 tháng 10 năm 2023. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  42. 1 2 "Constitution of the Republic of South Africa Act 200 of 1993 (Section 224)". South African Government. 1993. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  43. L. B. van Stade (1997). "Rationalisation in the SANDF: The Next Challenge". Institute for Security Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  44. "Defence Act 42 of 2002" (PDF). South African Government. ngày 12 tháng 2 năm 2003. tr. 18. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  45. "Career Descriptions – S. A. National Defence Force". www.bmdnet.co.za. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
  46. 1 2 3 Lekota, Mosiuoa (ngày 5 tháng 9 năm 2005). "Address by the Minister of Defence at a media breakfast at Defence Headquarters, Pretoria". Department of Defence. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  47. Martin, Guy (ngày 5 tháng 5 năm 2021). "SA defence budget falling to only .86% of GDP". defenceWeb (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
  48. Martin, Guy (ngày 1 tháng 7 năm 2025). ""A fine place, worth fighting for": Why South Africa needs urgent defence funding". defenceWeb (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  49. "African Security Review Vol 5 No 4, 1996: Strategic Perspectives on Illegal Immigration into South Africa". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  50. "Queens College: The Brain Gain: Skilled Migrants and Immigration Policy in Post-Apartheid South Africa". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  51. Human Rights Watch, 2001. Unequal Protection: The State Response to Violent Crime on South African Farms, ISBN 1-56432-263-7.
  52. Mohamed, Najma. 2000. "Greening Land and Agrarian Reform: A Case for Sustainable Agriculture", in At the Crossroads: Land and Agrarian Reform in South Africa into the 21st Century, ed. Cousins, Ben. Bellville, School of Government, University of the Western Cape. ISBN 1-86808-467-1.
  53. "Agriculture". South Africa Online. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2006.
  54. South Africa's bitter harvest Lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2007 tại archive.today.
  55. South Africans' long wait for land, BBC News.
  56. SA 'to learn from' land seizures, BBC News.
  57. Farms of Fear Lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2009 tại archive.today, The Sunday Times Magazine.
  58. Climate change to create African 'water refugees' – scientists Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2010 tại Wayback Machine, Reuters Alertnet. Truy cập 21 tháng 9 2006.
  59. Department of Agriculture South Africa Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2008 tại Wayback Machine.
  60. 1 2 3 "Critical Minerals and Metals Strategy South Africa 2025" (PDF). www.gov.za.
  61. "Mineral Resources" (PDF). www.gcis.gov.za.
  62. success, Your trusted source for investing. "Top 10 Gold Reserves by Country | INN". investingnews.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  63. "USGS Platinum Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  64. "USGS Chromium Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  65. "USGS Manganese Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  66. "USGS Vanadinum Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  67. "USGS Titanium Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  68. "USGS Minerals Information: Mineral Commodity Summaries". minerals.USGS.gov. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018.
  69. "World Uranium Mining - World Nuclear Association". www.world-nuclear.org. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2024.
  70. "Mineral Commodity Summaries 2025 – Iron Ore" (PDF). United States Geological Survey. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  71. 1 2 3 4 5 "The South African mining sector - Wits University". www.wits.ac.za. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  72. Neufeld, Dorothy (ngày 30 tháng 10 năm 2025). "Ranked: Unmined Gold Reserves by Country (2025)". Visual Capitalist (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  73. "How much gold has been found in the world? | U.S. Geological Survey". www.usgs.gov (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  74. "GII Innovation Ecosystems & Data Explorer 2025". WIPO. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  75. Dutta, Soumitra; Lanvin, Bruno (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads (bằng tiếng Anh). Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. tr. 19. doi:10.34667/tind.58864. ISBN 978-92-805-3797-0. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  76. "About Thawte - SSL and Code Signing Certificates from Thawte, Inc". www.thawte.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2024.
  77. "SKA announces Founding Board and selects Jodrell Bank Observatory to host Project Office". SKA 2011. ngày 2 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  78. 1 2 FinGlobal (ngày 11 tháng 6 năm 2020). "South African inventions: What is South Africa famous for?". FinGlobal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  79. "A history of helmet mounted displays | Request PDF". ResearchGate (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  80. Mthobisi Nozulela (ngày 14 tháng 5 năm 2025). "Government plan aims to boost South Africa's tourism employment to 2. 5 million by 2029". MSN. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2025.
  81. Mthobisi Nozulela (ngày 14 tháng 5 năm 2025). "Government plan aims to boost South Africa's tourism employment to 2. 5 million by 2029". MSN. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2025.
  82. Sibuliso Duba (ngày 25 tháng 7 năm 2025). "SA ranked fourth-best country in the world as tourism flourishes". CapeTown ETC. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
  83. "Travel & Tourism Economic Impact 2013 South Africa" (PDF). WTTC. tháng 3 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013.
  84. Mthobisi Nozulela (ngày 14 tháng 5 năm 2025). "Government plan aims to boost South Africa's tourism employment to 2. 5 million by 2029". MSN. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2025.
  85. "3,5 million travellers to South Africa". www.statssa.gov.za. ngày 25 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
  86. "Roads – The Department of Transport" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  87. "SANRAL". www.nra.co.za. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  88. "Railways". The World Factbook. CIA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  89. "South Africa Transnet Freight Rail". www.trade.gov (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2023.
  90. "South Africa – Rail Infrastructure". www.trade.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2023.
  91. "South Africa's first bullet train planned" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  92. "High-speed trains for South Africa are coming: Ramaphosa" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  93. "Airports – The World Factbook". www.cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
  94. Yadav, Lalit (ngày 2 tháng 12 năm 2021). "These 7 Awesome Airports In South Africa Are Making Travel Easy" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
  95. Theafricalogistics (ngày 8 tháng 7 năm 2019). "Top 10 largest airports in Africa". The Africa Logistics (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
  96. "Cape Town International Airport awarded title of best airport globally". Cape Town ETC (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2025.
  97. "Cape Town International Airport ranked best airport in the world - SABC News - Breaking news, special reports, world, business, sport coverage of all South African current events. Africa's news leader". SABC News - Breaking news, special reports, world, business, sport coverage of all South African current events. Africa\'s news leader. (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2025.
  98. Agbetiloye, Adekunle (ngày 26 tháng 3 năm 2024). "10 African countries with the highest number of aircraft in 2024". Business Insider Africa (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  99. Polito, Sebastián (ngày 29 tháng 5 năm 2025). "South African Airways rebuilding its wide body fleet". Flightradar24 Blog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  100. "Port Terminals 2019" (PDF). TransNet. 2019.
  101. "halong bay cruise overnight". Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2023.
  102. "Port of Richards Bay, South Africa". www.findaport.com. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  103. "Transnet - Port of Cape Town" (PDF). Transnet.[liên kết hỏng]
  104. Wessels, André (ngày 12 tháng 12 năm 2025). "Wanted: A new Simon's Town agreement? - DefenceWeb" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2025.
  105. "The bottleneck". The Economist. ISSN 0013-0613. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  106. "Electricity Comparison". The World Factbook. CIA. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  107. "100 Years – Eskom Heritage". www.eskom.co.za (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2023.
  108. "Coal fired power stations – Eskom". www.eskom.co.za (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2023.
  109. Sguazzin, Antony; Naidoo, Prinesha; Burkhardt, Paul. "Eskom turns 100 next year – here's how it went from world best to SA's biggest economic risk". Business (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2023.
  110. Prater, Tom (ngày 15 tháng 10 năm 2018). "The Carbon Brief Profile: South Africa". Carbon Brief (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  111. "Coal fired power stations - Eskom". www.eskom.co.za (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  112. Labuschagne, Hanno. "18 years and R467 billion later — Most expensive mistakes in the history of Eskom" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  113. 1 2 "Open Infrastructure Map". openinframap.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  114. Vermeulen, Jan. "Most expensive coal power station ever built in the history of mankind" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  115. "Peaking power stations - Eskom". www.eskom.co.za (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  116. "World Bank Open Data". World Bank Open Data. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  117. "How eskom & the government can put an end to loadshedding in south africa". Greenpeace Africa (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  118. "Eskom load shedding". loadshedding.eskom.co.za. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  119. "Top executive linked to acts of sabotage at Eskom: report" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  120. Diemen, Ethan van (ngày 4 tháng 3 năm 2023). "Eskom sabotage: how cartels plunge South Africa into darkness". Daily Maverick (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  121. Eyaaz (ngày 18 tháng 12 năm 2022). "Army deployed to Eskom power plants amid security threats". The Mail & Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  122. "Eskom's ongoing collaboration with law enforcement leads to six arrests for procurement fraud - Eskom" (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  123. "Loadshedding continues to be suspended: R17.25 billion in year-on-year diesel savings achieved - Eskom" (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  124. 1 2 WHO/UNICEF:Chương trình Giám sát Liên hợp về Cấp nước và Vệ sinh:Bảng dữ liệu Nam Phi Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2014 tại Wayback Machine, 2010. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012
  125. "Professor Says Cape Town Crisis Should Serve as a 'Wakeup Call to All Major U.S. Cities'". www.newswise.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018.
  126. 1 2 Hewitson, Bruce (ngày 19 tháng 10 năm 2017). Patel, Ozayr (biên tập). "Why Cape Town's drought was so hard to forecast". doi:10.64628/AAJ.vfseu9yet. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
  127. "The 11 cities most likely to run out of drinking water – like Cape Town" Lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2018 tại Wayback Machine 11 tháng 2 năm 2018. BBC News.
  128. In drought-hit South Africa, the politics of water Lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2018 tại Wayback Machine, Reuters, 25 tháng 1 năm 2018
  129. Cape Town May Dry Up Because of an Aversion to Israel Lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Wall St. Journal, 21 tháng 2 năm 2018
  130. The Cape Town Water Crisis and Hating Israel Lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, aish, 11 tháng 2 năm 2018
  131. South African stupidity Lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Jerusalem Post, 3 tháng 2 năm 2018
  132. 1 2 "Telecommunications Infrastructure in South Africa". ICA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  133. "All the undersea cables connecting South Africa to the rest of the world" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  134. "MTN Group Limited" (PDF). MTN Group Limited.
  135. "The 5 African Countries That Have Launched 5G Services So Far". itnewsafrica.com. ngày 25 tháng 5 năm 2022.
  136. "Vodacom launches Africa's first live 5G network which supports both mobile and fixed wireless services | Vodacom Group". www.vodacom.com. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  137. Odendaal, Natasha. "South Africa's telecommunications growth boosted by fibre, expanding network coverage". Engineering News. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  138. "Elon Musk's Starlink faces fresh roadblock in South Africa amid tech sovereignty dispute". Business Insider Africa (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
  139. "World Population Prospects – Population Division – United Nations". population.un.org. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  140. "Anti-immigrant violence spreads in South Africa, with attacks reported in Cape Town – The New York Times". International Herald Tribune. ngày 23 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
  141. "Escape From Mugabe: Zimbabwe's Exodus". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2016.
  142. "More illegals set to flood SA". Fin24. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2011.
  143. Study Commission on U.S. Policy toward Southern Africa (U.S.) (1981). South Africa: time running out: the report of the Study Commission on U.S. Policy Toward Southern Africa. University of California Press. tr. 42. ISBN 978-0-520-04547-7. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2015.
  144. Fin24 Lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2007 tại Wayback Machine.
  145. Unisa.
  146. Policy Series Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine, Queen’s University.
  147. The Economist.
  148. "Peoples Budget Coalition Comments on the 2011/12 Budget". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2012.
  149. 1 2 "'Clinic-in-a-Box' seeks to improve South African healthcare". SmartPlanet. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.
  150. "South Africa". ICAP at Columbia University. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.
  151. "Motsoaledi to reform private health care". Financial Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.
  152. "HIV and AIDS estimates (2015)". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014.
  153. "South Africa". www.unaids.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019.
  154. "HIV & Aids in South Africa". Avert. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2006.
  155. ""Sack SA Health Minister" – world's AIDS experts". afrol News. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2006.
  156. 1 2 "AIDS orphans". Avert. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2006.
  157. "SA records 65 percent drop in malaria cases". United Press International. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
  158. "South Africa". The World Factbook. CIA. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2021.
  159. "South Africa – Section I. Religious Demography". U.S. Department of State. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.
  160. "South Africa". United States Department of State (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  161. Bentley, Wessel; Dion Angus Forster (2008). "God's mission in our context, healing and transforming responses". Methodism in Southern Africa: A Celebration of Wesleyan Mission. AcadSA. tr. 97–98. ISBN 978-1-920212-29-2.
  162. Department of State, USA.
  163. Hiến pháp Nam Phi
  164. "statssa.gov.za/.../TechPaperAgeSex.pdf" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  165. Umamah Bakharia (ngày 29 tháng 4 năm 2025). "South Africa has second highest rate of literate adults in Africa". Mail & Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
  166. NationMaster: South African Crime Statistics
  167. "Farms of fear". The Times Online. ngày 2 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  168. "thewinedoctor.com". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007.
  169. "History of Scouting in South Africa". History of Scouting in South Africa. South African Scout Association. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006.
  170. "Sport in South Africa". SouthAfrica.info. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  171. Sport in South Africa topendsports.com, truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2020.
  172. "Blacks like soccer, whites like rugby in SA". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2021.
  173. "SA sport not the unifier it once was: survey". eNCA. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2021.
  174. "Analysis: Bafana Bafana Struggling To Make Needed Improvements". ngày 11 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2021.
  175. Cooper, Billy (ngày 12 tháng 7 năm 2010). "South Africa gets 9/10 for World Cup". Mail & Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
  176. "New Zealand 11-12 South Africa: Springboks win record fourth Rugby World Cup in dramatic final". BBC Sport. ngày 28 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  177. Mike Hall (ngày 18 tháng 5 năm 2022). "Which Players Have Won A Golf Grand Slam?". Golf Monthly Magazine.

Thư mục

sửa

Liên kết ngoài

sửa