Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2026

Mùa bão ở Tây Bắc Thái Bình Dương

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2026 là một sự kiện diễn ra trong chu kỳ hình thành xoáy thuận nhiệt đới hàng năm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương. Mùa sẽ kéo dài trong suốt năm 2026, nhưng hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới thường phát triển trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 10. Phạm vi của bài viết này chỉ giới hạn ở phía Bắc đường xích đạo, từ 100°Đ và phía Tây của kinh tuyến 180°. Trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, có hai cơ quan riêng biệt đặt tên cho các xoáy thuận nhiệt đới, điều này thường dẫn đến một xoáy thuận có hai tên. Cục Khí tượng Nhật Bản (JMA)[a] sẽ đặt tên và nâng cấp thành bão cho một xoáy thuận nếu nó có tốc độ gió duy trì trong 10 phút ít nhất là 65 km/h (40 mph) ở bất kỳ nơi nào trong lưu vực. Cục Quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sẽ đặt tên cho bất kì xoáy thuận nhiệt đới nào chuyển vào Khu vực trách nhiệm của Philippines (PAR) nằm giữa 135°Đ và 115°Đ và giữa 5°B và 25°B, bất kể xoáy thuận nhiệt đới đó đã được JMA đặt tên hay chưa. Áp thấp nhiệt đới cũng sẽ được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) gán một số có hậu tố "W"; W nghĩa là phía Tây (West), ám chỉ khu vực phía Tây Thái Bình Dương.[b]

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2026
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành 12 tháng 1 năm 2026
Lần cuối cùng tan Đang hoạt động
Bão mạnh nhất Sinlaku – 905 hPa (mbar), 215 km/h (130 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới 34
Tổng số bão 24
Bão cuồng phong 7
Siêu bão cuồng phong 3
Số người chết 269+ (12)
Thiệt hại > $6.18 tỉ (USD 2026)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2024, 2025, 2026, 2027, 2028
Bài liên quan

Cơn bão đầu tiên của mùa là Nokaen hình thành vào ngày 15 tháng 1 đánh dấu lần đầu tiên việc hình thành xoáy thuận nhiệt đới và được đặt tên quốc tế trong tháng 1 kể từ cơn bão nhiệt đới Pabuk (năm 2019). Đây là mùa bão hoạt động sớm nhất kể từ mùa bão năm 2019. Bão nhiệt đới Haishen là cơn bão nhiệt đới đầu tiên được cả Cục Khí tượng Nhật Bản (JMA), Cục Quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) đều công nhận nhưng không được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) công nhận kể từ bão Mulan năm 2022. Tính đến thời điểm hiện tại, bão nhiệt đới Haishen cũng là cơn bão nhiệt đới có thời gian tồn tại ngắn nhất (02 ngày). Bão Dolphin (siêu bão thứ 3 của mùa bão) là cơn bão có thời gian tồn tại lâu nhất tại mùa bão (19 ngày). Bão nhiệt đới Kujira là cơn bão có diễn biến phức tạp nhất (tính từ đầu năm) và có nhiều lần hồi sinh từ áp thấp nhiệt đới Luis tới bão Kujira và hồi sinh thành bão Peilou và diễn biến của Kujira giống bão Parma 2009. Đồng thời, bão nhiệt đới dữ dội Maysak gây ra lũ lụt tàn phá ở miền Nam Trung Quốc khiến 171 người thiệt mạng, riêng Quảng Tây là 159 người. Vào ngày 24 tháng 8, Cục khí tượng Nhật Bản (JMA) đã ghi nhận 4 cơn bão hoạt động cùng lúc trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương bao gồm bão Saudel (Obet), Narra (bão số 4), Gaenari (Neneng)Atsani, điều xảy ra lần đầu tiên trong 2 năm kể từ năm 2024.

Cơn bão cuồng phong đầu tiên là Sinlaku đạt cường độ bão vào ngày 10 tháng 4 và trở thành siêu bão vào ngày 12 tháng 4 với cường độ cực đại, biến nó thành siêu bão mạnh thứ hai từng được ghi nhận trong lịch sử xuất hiện vào tháng 4 chỉ đứng sau bão Surigae (2021) cách đó 5 năm trước. Sinlaku đổ bộ vào Quần đảo Bắc Mariana, gây thiệt hại nặng nề ở TinianSaipan. Bão Bavi trở thành siêu bão thứ hai của mùa vào ngày 4 tháng 7, trước khi đổ bộ vào Rota với cường độ cực đại, trở thành một trong những cơn bão mạnh nhất từng được ghi nhận ở Quần đảo Bắc Mariana. Bão Dolphin đã trở thành siêu bão thứ ba của mùa bão năm nay vào ngày 29 tháng 7, trước khi đổ bộ vào Okinawa vào ngày 7 tháng 8 và sau đó tiến vào tỉnh Chiết Giang của Trung Quốc vào ngày 9 tháng 8 gần Ôn Châu. Tính đến đầu tháng 9. mùa bão năm nay khá dữ dội với 24 xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên.

Khái quát chung về mùa bão

sửa

Dự báo mùa bão 2026

sửa

Năm bắt đầu với chu kỳ La Niña yếu phát triển vào từ năm 2025. Đến tháng 2 năm 2026, hiện tượng La Niña yếu đã chính thức kết thúc. Trong ba tháng tiếp theo, nhiệt độ khí quyển và bề mặt biển bước vào trạng thái trung tính. Đến giữa năm 2026, sự bất thường về nhiệt độ bề mặt biển (SST) trên khắp khu vực trung tâm và phía đông xích đạo Thái Bình Dương cho thấy sự chuyển đổi nhanh chóng sang điều kiện El Niño.

Trong một năm (hoặc một mùa bão) một số cơ quan khoa học và cơ quan khí tượng dự báo có bao nhiêu xoáy thuận nhiệt đới (một số cơ quan dự báo có dự báo số lượng xoáy thuận nhiệt đới theo độ mạnh) sẽ hình thành trong một mùa và có bao nhiêu cơn bão nhiệt đới sẽ ảnh hưởng đến một quốc gia cụ thể. Các cơ quan này bao gồm Hiệp hội Rủi ro Bão nhiệt đới (TSR) của Đại học College London, PAGASA, Cục Thời tiết Trung ương Đài Loan (CWA). Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia (NCHMF) cũng dự báo số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông.

Dự báo mùa bão 2026
Ngày dự báo của

TSR

Tropical Storm

(Bão nhiệt đới)

Typhoon

(Bão cuồng phong / Bão rất mạnh)

Violent Typhoon

(Bão dữ dội)

ACE

(Năng lượng tích lũy)

Ref.

(Chú thích)

Trung Bình (1991–2020)25.516.09.3301[1]
11 tháng 5, 2026271811410[1]
9 tháng 7, 2026 28 19 12 436 [2]
10 tháng 8, 2026 28 20 13 500 [3]
Thời gian công bố

dự báo

Trung tâm

dự báo

Khoảng thời gian Số lượng xoáy thuận Khu vực dự đoán Tham khảo
15 tháng 12, 2025 PAGASA Tháng 1 → Tháng 3 0–3 xoáy thuận nhiệt đới PAR [4]
15 tháng 12, 2025 PAGASA Tháng 4 → Tháng 6 2–5 xoáy thuận nhiệt đới PAR [4]
15 tháng 1, 2026 NCHMF Tháng 2 → Tháng 7 3 - 4 xoáy thuận nhiệt đới Biển Đông [5]
15 tháng 7, 2026 NCHMF Tháng 8 → Tháng 12 9 - 10 xoáy thuận nhiệt đới (bão) Biển Đông [6]
2 tháng 6, 2026 JMA Tháng 6 → Tháng 12 28 xoáy thuận nhiệt đới (bão) (Bằng trí tuệ nhân tạo). Tây Bắc Thái Bình Dương [7]
Mùa giải 2026. Trung tâm

dự báo

Tropical cyclones

(Xoáy thuận nhiệt đới)

Tropical Storm

(Bão nhiệt đới)

Typhoon

(Bão cuồng phong / Bão cuồng phong rất mạnh)

Violent Typhoon

(Siêu bão cuồng phong)

Ref.

(Chú thích)

Hoạt động thực tế:JMA34247 3
Hoạt động thực tế:JTWC24[c]208 3
Hoạt động thực tế:PAGASA16[d]115 1
Hoạt động thực tế: NCHMF 8 5 1 0

Tính trên toàn khu vực

sửa

Tóm tắt mùa bão

sửa

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương năm 2026 không có giới hạn mùa chính thức, mặc dù hầu hết các xoáy thuận nhiệt đới thường hình thành từ tháng 6 đến tháng 11. Tính đến thời điểm hiện tại mùa bão có 32 xoáy thuận nhiệt đới hình thành, trong đó 23 đạt mức bão nhiệt đới. 7 cơn trong số đó mạnh lên thành bão cấp mạnh và 3 cơn mạnh lên thành siêu bão. Ngoài ra, mỗi tháng của mùa bão đều có ít nhất một xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên là hiện tượng đầu tiên xảy ra kể từ mùa bão năm 2015. Tính đến nay, sự xuất hiện liên tục và dồn dập của các xoáy thuận nhiệt đới biến đây là một mùa bão hoạt động mạnh đối với Philippines kể từ năm 1994

Một số kỉ lục của mùa bão năm nay:

  1. Bão Nokaen là cơn bão hình thành vào thời điểm sớm nhất trong năm (Hình thành ngay tháng 1) kể từ bão Pabuk (2019). Khi một cơn bão xảy ra vào tháng 1, các cơn bão cuồng phong về sau thường xuất hiện nhiều và thường xuyên hơn. Các ví dụ tiêu biểu bao gồm năm 2013, 2014, 20152018,...
  2. Cơn bão Narra hình thành và hoạt động ngay trên Vịnh Bắc Bộ kể từ bão Fitow (2001). Đây cùng là cơn bão tồn tại lâu nhất Vịnh Bắc Bộ (5-6 ngày) soán ngôi cơn bão Amy (Bão số 5 năm 1994 - 4 ngày)
  3. Với việc hình thành bão Bang-lang vào năm 2026 lên bão nhiệt đới vào ngày 28 tháng 8, một kỷ lục đã được thiết lập khi cơn bão thứ 23 xảy ra vào tháng 8 lần đầu tiên sau 55 năm kể từ cơn bão Trix (năm 1971), xảy ra vào ngày 21 tháng 8 năm 1971.
  4. Vào tháng 8 năm 2026 10 cơn bão (XTNĐ) liên tục hình thành, đánh dấu kỷ lục đầu tiên của thế kỷ 21 và những năm 2020, được ghi nhận lần đầu tiên trong 60 năm kể từ năm 1966.
  5. Cho đến nay mùa bão năm nay hoạt động rất liên tục và thường xuyên với 24 cơn bão được đặt tên đã hình thành tính đến ngày 4 tháng 9 khiến nó trở thành mùa hoạt động mạnh nhất và nhiều nhất tính đến thời điểm này kể từ năm 1971.

Hoạt động đầu mùa (Tháng 1 - Tháng 5).

sửa
Ảnh động hồng ngoại về bão Sinlaku trong quá trình tăng cường độ nhanh từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 4.

Mùa bão bắt đầu với sự hình thành của Bão nhiệt đới Nokaen (Ada); cơn bão được đặt tên vào ngày 15 tháng 1 sau khi phát triển từ một áp thấp nhiệt đới hai ngày trước đó. Nokaen trở thành xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên hình thành trong tháng 1 kể từ Bão nhiệt đới Pabuk (năm 2019). Cơn bão  gây tổn thất 24 nghìn USD và làm 2 người thiệt mạng và trước khi tan vào ngày 22 tháng 1 do gió mùa đông bắc mạnh lên.

Hoạt động đầu mùa tiếp diễn với bão Basyang, hình thành gần đảo Yap vào ngày 2 tháng 2 và được quốc tế đặt tên là Penha hai ngày sau đó. Điều này đưa Penha trở thành xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên hình thành trong tháng 2 kể từ Bão nhiệt đới Dujuan (năm 2021). Cơn bão đổ bộ Bayabas, Surigao del Sur ngày 5 tháng 2 và tiếp tục quét qua Visayas trước khi suy yếu và tan vào ngày 7 tháng 2, gây thiệt hại 25,5 triệu USD và làm 12 người thiệt mạng. Bão nhiệt đới Nuri hình thành ở phía đông bắc đảo Yap vào ngày 10 tháng 3, tiếp nối chuỗi hoạt động đầu mùa. Đây cũng là xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên hình thành trong tháng 3 kể từ Bão Jelawat (năm 2018). Ngày 10 tháng 3, JMA ghi nhận thêm một áp thấp nhiệt đới ở phía đông-đông bắc bão Nuri nhưng đã tan rã ngay ngày hôm sau.

Gần một tháng sau, bão Sinlaku hình thành gần Chuuk vào ngày 8 tháng 4. Sinlaku trở thành xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên xuất hiện trong tháng 4 kể từ bão nhiệt đới Sanvu năm 2023 và là cơn bão cuồng phong đầu tiên trong tháng 4 kể từ bão Malakas (2022). Sinlaku trở thành siêu bão đầu tiên của mùa, đồng thời là xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất trên toàn cầu trong năm 2026 tính đến hiện tại, cũng như là cơn siêu bão xuất hiện vào tháng Tư manj nhất kể từ Bão Surigae năm 2021. Sinlaku đổ bộ vào Saipan với cường độ tương đương cấp 4 vào ngày 14 tháng 4, trước khi chuyển thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới vào ngày 19 tháng 4 và tan vào hôm sau. Cơn bão tàn khốc này cướp đi sinh mạng của 17 người và gây thiệt hại kinh tế hơn 1,55 tỷ USD.

Vào ngày 6 tháng 5, Bão nhiệt đới Hagupit hình thành ở phía tây-tây bắc Chuuk, trở thành xoáy thuận nhiệt đới đầu tiên hình thành trong tháng Năm kể từ Bão Ewiniar (năm 2024). Ba ngày sau, Hagupit vào PAR ngày 9 tháng 5, PAGASA đặt tên địa phương là Caloy. Sau đó, suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào hôm sau và tan thành vùng thấp ngày 15 tháng 5. Một áp thấp nhiệt đới hình thành phía đông bão Hagupit vào ngày 8 tháng 5 và tan ngay ngày hôm sau. Mười một ngày sau, vào ngày 26 tháng 5, Bão nhiệt đới Jangmi hình thành gần Yap. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2021 có ba áp thấp nhiệt đới hình thành trong tháng Năm tại khu vực này. Jangmi đi vào PAR vào sáng sớm ngày 29 tháng 5 và được PAGASA đặt tên là Domeng. Cơn bão sau đó ảnh hưởng đến một số khu vực của Nhật Bản vào ngày 1 tháng 6 trước khi đổ bộ vào tỉnh Wakayama và chuyển đổi thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới vào ngày 3 tháng 6. Cơn bão chỉ gây thiệt hại 3,1 triệu USD nhưng không có thương vong.

Hoạt động giữa mùa

sửa
Ảnh động vệ tinh về quá trình tăng cường độ nhanh chóng của bão Mekkhala trên Biển Philippines vào ngày 22 tháng 6.

Ngày 1 tháng 6, một áp thấp nhiệt đới đã hình thành gần Biển Đông. Vùng áp thấp này đi vào Khu vực Trách nhiệm dự báo của Philippines (PAR) vào ngày 5 tháng 6 và được PAGASA đặt tên là "Ester". JTWC đã phân loại hệ thống này là áp thấp cận nhiệt đới vào ngày 7 tháng 6 trước khi nó đổ bộ vào Đài Loan. Áp thấp nhiệt đới hình thành ngày 9 tháng 6 gần Đồng bằng châu thổ Châu Giang, sau đó nhanh chóng bị hấp thụ bởi một rãnh gió hình thành gần đó.

Bão Mekkhala hình thành vào ngày 18 tháng 6 tại khu vực ngay phía đông-đông nam Guam; khi đi vào PAR vào ngày 20 tháng 6, nó được PAGASA đặt tên địa phương là "Francisco" – tên thay thế cho "Florita". Các điều kiện môi trường rất thuận lợi đã cho phép Mekkhala mạnh lên thành cơn bão cuồng phong rất mạnh thứ hai của mùa bão điều này biến Mekkhala thành một trong những cơn bão mạnh nhất tháng 6 kể từ bão Guchol (2012). Sau đó, Mekkhala dần suy yếu vào ngày 23 tháng 6 khi di chuyển chậm qua các điều kiện bất lợi. Cơn bão cướp đi sinh mạng của 10 người và gây thiệt hại hơn 20,2 triệu USD. Trong khi Mekkhala mạnh lên nhanh chóng vào ngày 21 tháng 6, một vùng áp thấp khác hình thành ở phía đông Guam. Ngày 23/6 vùng nhiễu động này phát triển thành bão nhiệt đới Higos và vào PAR ngày 25/6 và được PAGASA đặt tên Gardo. Bão di chuyển theo hướng bắc rồi tây bắc, gây hiệu ứng Fujiwara nhẹ với bão Mekkhala trước khi đổ bộ bán đảo Izu và bán đảo Boso vào ngày 27/6, sau đó chuyển thành bão ngoại nhiệt đới và bị hấp thụ.

Video ảnh động hồng ngoại về quá trính tăng cường độ nhanh của bão Bavi vào ngày 3 đến 4 tháng 7.

Bavi hình thành từ vùng nhiễu động gần Kwajalein ngày 25/6, mạnh lên thành bão nhiệt đới ngày 1/7. Nhờ điều kiện thuận lợi, bão nhanh chóng đạt cấp siêu bão vào ngày 5/7. Khi tiến vào vùng biển Philippines ngày 7/7 (được PAGASA đặt tên Inday), bão suy yếu nhanh do chu kỳ thay thế mắt bão và điều kiện bất lợi, đồng thời đổi hướng tây bắc. Ngày 11/7, bão lần lượt đổ bộ Ngọc Hoàn và Nhạc Thanh (Trung Quốc), sau đó đổ bộ lần thứ ba vào Triều Tiên sau đó ba ngày. Cuối đời, bão qua biển Nhật Bản, suy yếu và chuyển thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới. Cơn siêu bão gây thiệt hại hơn 141 triệu USD và làm 23 người chết. Cùng thời điểm đó, áp thấp nhiệt đới "Henry" cũng đang hình thành ngoài khơi bờ biển Philippines. Khi Henry di chuyển về phía Bắc, JMA đã nâng cấp hệ thống thành bão nhiệt đới ngày 2 tháng 7 và đặt tên là Maysak. Vào ngày 3 tháng 7, bão Maysak đổ bộ lần đầu tiên gần tỉnh Hải Nam (Trung Quốc). Ngày 4 tháng 7, bão tiếp tục đổ bộ lần thứ hai vào Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và suy yếu dần. Hậu quả cơn bão làm 171 người thiệt mạng và gây tổn thất kinh hoàng hơn 3,35 tỷ USD.

JTWC bắt đầu theo dõi một vùng thấp từ ngày 7 tháng 7 tại quần đảo Marshall. Ngày 12 tháng 7, JMA phân loại áp thấp nhiệt đới và nâng cấp thành bão nhiệt đới Haishen ngày 13 tháng 7. Đêm cùng ngày, bão vào PAR và được PAGASA đặt tên Josie. Trong khi đó, JTWC vẫn giữ phân loại vùng nhiễu động 97W. Ngày 14 tháng 7, bão suy yếu thành áp thấp nhiệt đới rồi tan dần. Ngày 15 tháng 7, vùng nhiễu động nhiệt đới 90W hình thành phía đông nam đảo Kosley. Ngày 16 tháng 7, JMA và PAGASA nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới nhưng hệ thống nhanh chóng suy yếu thành vùng áp thấp vào chiều ngày 17 tháng 7.

Bão Noul hình thành từ vùng áp thấp 92W ngoài khơi Yap ngày 21 tháng 7, nhanh chóng phát triển và được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới vào ngày 24 tháng 7. Cơn bão tiếp tục mạnh lên đều đặn, đổ bộ lần thứ nhất vào đảo Camiguin (Philippines) rồi đạt cấp bão cuồng phong vào ngày 25 tháng 7. Rạng sáng 26 tháng 7, Noul đổ bộ lần hai vào huyện Huệ Đông, thành phố Huệ Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) trước khi kết thúc hành trình. Cơn bão gây thiệt hại tài sản hơn 839 triệu USD và cướp đi hơn 14 sinh mạng.

Video ảnh động hồng ngoại về quá trính tăng cường độ nhanh của bão Dolphin từ ngày 27 đến 29 tháng 7.

Bão Dolphin bắt đầu từ một vùng nhiễu động tại Trung Thái Bình Dương (Invest 92C) rồi di chuyển qua đường đổi ngày vào Tây Bắc Thái Bình Dương, mạnh lên thành bão nhiệt đới vào ngày 27/7. Nhờ điều kiện thuận lợi, bão tăng cường nhanh lên cấp 4 và đạt cấp siêu bão ngày 30/7. Sau các chu kỳ thay thế mắt bão làm biến động cường độ, bão tái tăng cường lên cấp 4 và quét qua đảo Bắc Iwo Jima ngày 4/8. Do tương tác với không khí lạnh và độ đứt gió tăng, bão suy yếu dần trước khi đổ bộ Ngọc Hoàn và Ôn Châu (Chiết Giang, Trung Quốc) ngày 9/8, rồi tan thành áp thấp nhiệt đới trên đất liền nhưng vẫn gây mưa lớn diện rộng. Trận siêu bão gây ra thiệt hại tài sản hơn 265 triệu USD. Bão cũng khiến 6 người thiệt mạng.

Vùng áp thấp 94W hình thành, được JMA nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới và PAGASA đặt tên là Luis. Ngày 2/8, hệ thống đổ bộ lần 1 vào Maconacon (Luzon, Philippines) rồi đi vào Biển Đông. Tại Biển Đông, hệ thống phân tách tạo ra vùng áp thấp Maymay, sau đó hợp nhất lại và mạnh lên thành bão Kujira. Sáng sớm 6/8, bão quay đầu đổ bộ lần 2 vào Magsingal (Ilocos Sur, Philippines), đổi hướng về phía đông rồi suy yếu và tan dần trên biển. Hậu quả bão làm 7 người chết và gây thiệt hại tài chính hơn 26,1 triệu USD. Vùng áp thấp 96W hình thành ngoài khơi đảo Wake, nhanh chóng được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới Chan-hom vào ngày 5/8; JTWC công nhận là bão 14W vào ngày 7/8. Sau khi đạt cấp bão nhiệt đới dữ dội vào ngày 11 tháng 8, Chan-hom đổ bộ vào tỉnh Ibaraki (Nhật Bản) theo quỹ đạo di chuyển dị thường từ đông sang tây, trước khi suy yếu dần. Tàn dư bão Kujira trên Biển Philippines tiếp tục tái sinh, mạnh lên thành bão nhiệt đới ngày 9/8 nhưng nhanh chóng suy yếu và biến tính thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới ngày 14/8 do đứt gió lớn và không khí khô. Phát triển từ nhiễu động 91W, được nâng cấp thành bão nhiệt đới ngày 12/8 trước khi suy yếu và bị hạ cấp xuống áp thấp nhiệt đới vào cùng ngày.

Vào ngày 12 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vĩ độ thấp gần xích đạo (7–8°B) được NRL ký hiệu là 92W và được JMA nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 15 tháng 8. Ngày 19 tháng 8, hệ thống chính thức mang tên quốc tế Saudel và nhanh chóng mạnh lên thành bão cuồng phong vào ngày 23 tháng 8 khi tiến vào Biển Philippines. Cơn bão đã vào PAR và được PAGASA đặt tên địa phương là Obet, trong khi tàn dư của cơn bão Atsani bị Saudel hấp thụ hoàn toàn. Sau khi di chuyển qua quần đảo Ryukyu và Biển Hoa Đông, bão bắt đầu suy yếu do gặp không khí khô và nước lạnh. Vào sáng ngày 28 tháng 8, bão Saudel đổ bộ liên tiếp hai lần vào tỉnh Chiết Giang. Hệ thống nhanh chóng suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 29 tháng 8. Chịu tác động của không khí lạnh và áp cao phía Bắc, tàn dư bão bị bẻ lái xuống Tây Nam, quét qua Quảng Đông và tiến ra Bắc Biển Đông vào cuối ngày 30 tháng 8. Đến sáng ngày 1 tháng 9, JMA chính thức nâng cấp Saudel trở lại thành bão nhiệt đới trên khu vực Bắc Biển Đông. Sau đó, cơn bão tiếp tục đổ bộ lần thứ hai tại Trung Quốc vào ngày 3 tháng 9 và tan vào ngày 4 tháng 9.

Narra được hình thành từ vùng nhiễu động 95W phía tây nam Mũi Nga Loan vào ngày 16/8. Sau đó, hệ thống mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới, từng suy yếu rồi tái hình thành khi qua Hải Nam vào ngày 20/8. Ngày 22/8, JMA chính thức đặt tên quốc tế là Narra. Cơn bão bắt đầu đi với quỹ đạo hình nút và đổ bộ vào tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) vào ngày 26/8 và tan dần, ghi nhận từ 1 đến 4 người tử vong trong khi mức độ thiệt hại kinh tế vẫn chưa rõ. Vùng nhiễu động 94W ngày 15/8 ở phía bắc Palau và được PAGASA đặt tên là Neneng. Trải qua nhiều lần biến động cường độ trước khi được JMA chính thức nâng cấp thành bão nhiệt đới Gaenari vào ngày 22/8. Bão đổ bộ vào Tuyền Châu, Phúc Kiến (Trung Quốc) và tan vào ngày 25/8. Đẫy cũng là cơn bão thứ hai trong mùa không được JTWC công nhận là bão nhiệt đới. Nó gây tổn thất tài sản hơn 3,03 triệu USD và khiến hơn 2 người thiệt mạng.

Vào ngày 20/8, bão nhiệt đới Atsani hình thành từ nhiễu động 97W gần Palau, được PAGASA và JTWC theo dõi, nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới 19W vào ngày 22/8, rồi được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới Atsani vào ngày 24/8 trước khi hạ cấp vào ngày hôm sau. Tiếp theo, bão Bang-lang hình thành từ nhiễu động 99W vào ngày 24/8 ở phía nam đảo san hô Enwetak, được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới vào ngày 28/8, mạnh lên thành bão cuồng phong rồi chuyển thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới. Trong khi đó, bão nhiệt đới Etau hình thành ngày 26/8 từ nhiễu động 91W phía bắc đảo Wake, được JMA và JTWC đồng loạt nâng cấp thành bão nhiệt đới vào ngày 27/8 trước khi bị JTWC hạ cấp xuống áp thấp nhiệt đới vào ngày 30/8. Cuối cùng, áp thấp nhiệt đới Pilandok bắt đầu hình thành từ nhiễu động 94W ở phía đông Philippines từ ngày 28–29/8, được PAGASA đặt tên và được JMA công nhận là áp thấp nhiệt đới vào ngày 29/8. Vào sáng ngày 30 tháng 8, một vùng áp thấp hình thành ở Bắc Biển Đông và được JMA nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới ngày 30/8. Sang sáng ngày 31/8, JTWC chính thức theo dõi và gán ký hiệu 96W với mức đánh giá phát triển ở trung bình. Tuy nhiên sau khi mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới do tương tác với bão Saudel gần đó dẫn đến suy yếu và Saudel hấp thụ.

Từ ngày 28 đến 30 tháng 8, các cơ quan khí tượng bắt đầu theo dõi một vùng áp thấp ở phía đông Philippines (được JTWC gắn mã 94W). Hệ thống nhanh chóng mạnh lên, được JMA công nhận là áp thấp nhiệt đới vào ngày 29 tháng 8 và được PAGASA đặt tên địa phương là Pilandok vào sáng ngày hôm sau. Đến ngày 1 tháng 9, hệ thống chính thức được nâng cấp thành bão nhiệt đới với tên quốc tế là Krovanh (JTWC định danh là 22W). Sau khi rời khỏi khu vực PAR vào ngày 3 tháng 9, bão Krovanh đã đổ bộ vào tỉnh Kagoshima (Nhật Bản) vào chiều cùng ngày, tiến vào vùng biển Hoa Đông, thực hiện các vòng lặp dị thường trước khi suy yếu dần và chính thức bị JMA hạ cấp thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 7 tháng 9. Trong khi ní có đường đi dị thường thì vào ngày 2 tháng 9, nhiễu động 97W hình thành phía đông nam đảo Guam và nhanh chóng phát triển thành áp thấp nhiệt đới theo báo cáo của JMA vào ngày hôm sau. Dù từng được JTWC ngắn hạn nâng cấp thành bão nhiệt đới 23W, hệ thống này đã nhanh chóng bị suy yếu và chính thức tan biến vào ngày 6 tháng 9 do bị bão Krovanh nuốt chửng.

Trên Biển Đông và đất liền Việt Nam

sửa

Kể từ năm 2021, phân loại bão và áp thấp nhiệt đới ở Việt Nam được thực hiện Quyết định số 18/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 22 tháng 4 năm 2021. Theo đó bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ở Việt Nam gồm 05 cấp: Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) (cấp 6-7), Bão (bão thường, cấp 8-9), Bão mạnh (cấp 10-11), Bão rất mạnh (cấp 12-15), Siêu bão (từ cấp 16 trở lên). Cũng theo quyết định này, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia dùng thang sức gió Beaufort mở rộng đến cấp 17 để đánh giá tốc độ gió bão và Việt Nam xác định sức gió mạnh nhất trong xoáy thuận nhiệt đới được tính trung bình trong 2 phút.[8] Tỉnh ven biển đầu tiên mà tâm bão đi qua tại Việt Nam (căn cứ theo tọa độ của Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia) được tính là nơi đổ bộ chính thức của bão ở nước ta.

Bảng 1. Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông năm 2026
Phân loại Số lượng bão và ATNĐ theo tháng Tổng
Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
ATNĐ

(cấp 6-7)

1 0 1 1 0 0 0 3
Bão (bão thường)

(cấp 8-9)

0 1 2 1 0 0 0 4
Bão mạnh

(cấp 10-11)

0 0 0 0 0 0 0 0
Bão rất mạnh

(cấp 12-15)

0 1 0 0 0 0 0 1
Siêu bão

(≥ cấp 16)

0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng 1 2 3 2 0 0 0 7
Bảng 2. Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông năm 2026
Bão số Tên

quốc tế

Khu vực

đổ bộ

Tâm bão đi qua (Việt Nam) Thời gian

vào bờ tại Việt Nam

Cấp gió

lúc đổ bộ vào Việt Nam

Cấp gió

mạnh nhất trên Biển Đông[e]

Các khu vực

ảnh hưởng

Ghi chú
Tỉnh Trạm khí

tượng/thủy văn gần bão nhất

1 Maysak Bắc Bộ Quảng Ninh Móng Cái 22h ngày 4 tháng 7 Cấp 8–9 Cấp 9 Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ [9]
2 Noul Nam Trung Quốc - - - - Cấp 12-13 - -
3 Kujira Bắc đảo Lu Dông - - - - Cấp 8 - Ra khỏi biển Đông
4 Narra Nam Trung Quốc - - - - Cấp 9 Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Đi sát đất liền ven biển Việt Nam, gây gió mạnh từ cấp 6 trở lên và mưa lớn, tính ảnh hưởng trực tiếp
5 Saudel Nam Trung Quốc - - - - Cấp 8-9 - -
ATNĐ
ATNĐ tháng 6 Ester
(tên địa phương Philippines)
- - - - - Cấp 6 - Ra khỏi biển Đông
ATNĐ tháng 8 - Đảo Hải Nam - - - - Cấp 6 - -
ATNĐ tháng 9 JMA TD 34 - - - - - Cấp 6 - -
Giới thiệu sơ lược về mùa bão 2026 tại Biển Đông và đất liền Việt Nam
sửa

Tính đến đầu tháng 8 năm 2026, trên Biển Đông có tổng cộng 8 xoáy thuận nhiệt đới hoạt động, bao gồm 5 cơn bão và 3 áp thấp nhiệt đới. Mùa bão năm 2026 được đánh giá là bắt đầu tương đương so với trung bình nhiều năm, mở đầu bằng áp thấp nhiệt đới Ester hình thành trên khu vực Bắc Biển Đông vào đầu tháng 6. Cho đến thời điểm hiện tại của năm 2026, có 2 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta. Tuy nhiên, dựa trên các kịch bản dự báo, các cơn bão có xu hướng đổ bộ vào Việt Nam trong thời gian tới có thể được chia làm chùm chính bao gồm:

  • Chùm thứ nhất: Các cơn bão đổ bộ vào Bắc Bộ. Các cơn bão đổ bộ tại Bắc Bộ là: Bão số 1 (Maysak).
  • Chùm thứ hai: Các cơn bão đổ bộ vào Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ.
  • Chùm thứ ba: Các cơn bão đổ bộ vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Tóm tắt mùa bão 2026 tại Biển Đông và Việt Nam
sửa

Các cơn bão/ áp thấp nhiệt đới

sửa

Bão nhiệt đới Nokaen (Ada)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại14 tháng 1 – 22 tháng 1
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  996 hPa (mbar)

Vào ngày 13 tháng 1, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng áp thấp hình thành cách Palau khoảng 170 hải lý (310 km) về phía nam, với ảnh vệ tinh cho thấy một trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) rời rạc, kém tổ chức.[10] Sau đó, JMA cũng làm theo, xác định cùng hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới.[11] Ngày hôm sau, vào lúc 07:00 (08ː08 PHT—tức 00ː00 UTC), PAGASA cũng phân loại hệ thống này và đặt tên cho nó là Ada.[12] Cuối ngày hôm đó, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) đối với Ada, khi hệ thống này tiếp tục mạnh lên.[13] Vào lúc 22ː00 (15:00 UTC), JTWC đã nâng cấp hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới, đồng thời đặt mã hiệu là 01W.[14] Vào lúc 13ː00 (06:00 UTC) ngày 15 tháng 1, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã công nhận 01W là bão nhiệt đới và đặt tên cho nó là Nokaen.[15] Mặc dù nằm trong môi trường thuận lợi, Nokaen vẫn giữ nguyên cường độ trong khi gần như đứng yên dọc theo rìa phía nam của áp cao cận nhiệt đới.[16] Sau đó, nó dịch chuyển chậm về hướng đông bắc khi di chuyển vào vùng có điều kiện chỉ ở mức biên (không quá thuận lợi).[17] Vào ngày 19 tháng 1, PAGASA ghi nhận rằng Nokaen đã suy yếu thành một áp thấp nhiệt đới;[18] Hệ thống này tiếp tục suy yếu thành một vùng áp thấp tàn dư vào ngày 21 tháng 1[19] và tan rã vào ngày 22 tháng 1.[cần dẫn nguồn]

Nokaen đã gây mưa lớn dữ dội tại một số khu vực của Philippines, kích hoạt một vụ sạt lở đất khiến hai người thiệt mạng ở Matnog, tỉnh Sorsogon.[20] Một trường hợp tử vong khác đã được ghi nhận sau một sự cố hàng hải tại khu vực Surigao.[21] Nhiều khu vực trên khắp Catanduanes, AlbayCamarines Sur đã xảy ra sạt lở đất và ngập lụt.[22] Tổng cộng 832.986 người bị ảnh hưởng, và 60.384 người phải sơ tán do cơn bão tại các khu vực Calabarzon, vùng Bicol, Đông Visayas, đảo NegrosCaraga. Bộ Phúc lợi Xã hội và Phát triển (DSWD) đã cung cấp khoản hỗ trợ trị giá 43,14 triệu peso (733.086,58 USD) cho các gia đình bị ảnh hưởng, chính quyền địa phương và các đối tác khác.[23] Ngoài ra, do ảnh hưởng của cơn bão, 2.850 hành khách và 792 phương tiện chở hàng dạng lăn (rolling cargo) đã bị mắc kẹt do việc tạm ngừng hoạt động giao thông đường biển. Chính quyền thành phố Maasin, Nam Leyte đã hoãn lễ hội “Sakay-Sakay Festival” sang ngày 25 tháng 1. Một barangay tại Oras, Đông Samar đã phải đối mặt với khủng hoảng nước sạch sau khi lũ lớn phá hủy hệ thống cấp nước tại nơi đây.

Bão nhiệt đới Penha (Basyang)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại3 tháng 2 – 7 tháng 2
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  1000 hPa (mbar)

Vào ngày 2 tháng 2, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) bắt đầu theo dõi một vùng áp thấp hình thành cách Yap khoảng 128 hải lý (235 km) về phía đông-đông bắc, với ảnh vệ tinh cho thấy một trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) yếu và rộng.[24] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) sau đó cũng làm theo vào ngày hôm sau, xác định hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới.[25] Vào ngày 3 tháng 2, lúc 16ː30 (17:30 PHT—tức 09ː30 UTC), hệ thống đã đi vào Khu vực Trách nhiệm của Philippines (PAR), và PAGASA đặt tên cho nó là Basyang.[26][27] Vài giờ sau, JTWC đã ban hành Cảnh báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) đối với Basyang, khi hệ thống bắt đầu cho thấy dấu hiệu tổ chức rõ rệt hơn.[28] Vào ngày 4 tháng 2, lúc 10ː00 ̈(03:00 UTC), JTWC cũng làm theo và nâng cấp hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới, đồng thời đặt mã hiệu là 02W. Ảnh vệ tinh cho thấy trung tâm hoàn lưu mực thấp (LLCC) lộ ra một phần, bị lệch về phía nam so với vùng đối lưu đang bùng phát.[29] Sau đó, hệ thống trở nên rất bất đối xứng với quá trình củng cố chậm, đồng thời thiếu các dải mây có tổ chức, và đối lưu sâu bị lệch khỏi trung tâm.[30] 02W được JMA đặt tên là Penha vào lúc 19ː00 (21:00 JST—tức 12ː00 UTC) cùng ngày — đây là tên thay thế cho Vongfong sau khi tên này đã bị khai tử[31].

Penha gây ra mưa lớn, lũ lụt và sạt lở đất trên khắp Philippines, khiến 12 người chết, 36 người bị thương[32] và khoảng 28.000 người phải di dời. Một vụ sạt lở đất đã cướp đi sinh mạng của bốn người ở Cagayan de Oro,[33] trong khi năm người chết ở Iligan.[34] Hai người chết đuối ở Surigao del Sur,[35] trong khi một người khác chết đuối ở Carmen, Agusan del Norte.[36] Tình trạng khẩn cấp sau đó đã được tuyên bố ở Iligan[37] và Surigao del Sur.[38]

Bão nhiệt đới Nuri

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại10 tháng 3 – 13 tháng 3
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  998 hPa (mbar)

Vào ngày 10 tháng 3, một vùng áp thấp đã hình thành cách 74 hải lý (137 km) phía đông bắc Yap, Trung tâm Dự báo Bão Liên hợp (JTWC) đánh giá khả năng hình thành bão nhiệt đới ở mức trung bình.[39] Vào cuối ngày hôm đó, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) cũng bắt đầu đưa ra các bản tin cảnh báo về hệ thống này, phân loại nó là một áp thấp nhiệt đới.[cần dẫn nguồn] Mặc dù nằm trong môi trường tương đối thuận lợi, JTWC sau đó đã nâng cấp tiềm năng phát triển của vùng nhiễu động từ mức trung bình lên mức cao khi nó di chuyển về phía đông bắc.[40] Vào ngày 11 tháng 3, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã nâng cấp hệ thống này lên thành bão nhiệt đới và đặt tên cho nó là Nuri.[41] Trung tâm Dự báo Bão Liên hợp (JTWC) cũng nâng cấp hệ thống vào lúc 10ː00 (03:00 UTC), cập nhật hệ thống này là Áp thấp nhiệt đới 03W.[42] Vào ngày 12 tháng 3, Nuri suy yếu thành áp thấp nhiệt đới và sau đó tan biến vào cuối ngày hôm đó, cả JMA và JTWC đều đưa ra các bản tin cuối cùng về hệ thống này.[43]

Siêu bão Sinlaku

sửa
Siêu bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại8 tháng 4 – 20 tháng 4
Cường độ cực đại215 km/h (130 mph) (10 phút)  905 hPa (mbar)

Vào ngày 8 tháng 4, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) báo cáo rằng một vùng áp thấp đã hình thành cách Chuuk 234 hải lý (433km), về phía tây nam, đánh giá khả năng phát triển ở mức trung bình.[44] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) sau đó cũng làm theo, phân hệ thống này là áp thấp nhiệt đới.[45] Vào lúc 01ː00 ngày 9 tháng 4 (18:00 UTC, ngày hôm trước), JTWC đã phát bản tin Cảnh báo Hình thành Bão nhiệt đới (TCFA), nêu rõ khả năng hình thành cao khi trung tâm xoáy ở tầng thấp tiếp tục bao quanh nửa vòng tròn phía nam của hệ thống.[46] Sáng hôm sau, JTWC đã nâng hệ thống này thành Áp thấp nhiệt đới và đặt mã 04W.[47] Cuối ngày hôm đó, JMA đã nâng cấp 04W thành bão nhiệt đới, đặt tên cho nó là Sinlaku khi nó di chuyển về phía tây.[48] Với sức gió đứt thẳng đứng thấp và nhiệt độ mặt biển cao, Sinlaku đã được JMA nâng cấp thành bão nhiệt đới dữ dội lúc 19ː00 (12:00 UTC).[cần dẫn nguồn] Vào ngày 11 tháng 4, cả JMA & JTWC đều nâng cấp Sinlaku thành bão cuồng phong (Typhoon) với hình ảnh vệ tinh cho thấy cơn bão đang nhanh chóng tăng cường và vùng mây mù dày đặc trung tâm (CDO) đang mở rộng.[49][50] Sinlaku bắt đầu mạnh lên nhanh chóng, vì vậy nên JMA đã nâng cấp Sinlaku lên bão cuồng phong rất mạnh vào ngày hôm sau.[51] Ngày 13 tháng 4, JMA đã nâng cấp Sinlaku thành một siêu bão. Đến 01ː00 ngày 14 tháng 4 (18:00 UTC ngày hôm trước), JMA đã tăng sức gió duy trì trong 10 phút lên 115 hải lý/giờ (213 km/h), áp suất xuống còn 905 hPa, JTWC đã nâng mức sức gió duy trì trong 1 phút của Sinlaku lên 160 hải lý/giờ (295 km/h) và hạ áp suất trung tâm xuống còn 890 hPa/mBar (26,28 inHg).[52] Đến ngày 14 tháng 4, Sinlaku suy yếu xuống mức tương đương bão cấp 4 do trải qua chu kỳ thay thế thành mắt bão kéo dài, qua đó mất đi cấp độ siêu bão.[cần dẫn nguồn] Sau đó trong cùng ngày, cơn bão dù đã suy yếu nhưng vẫn rất mạnh này đã đổ bộ vào phía bắc đảo Tinian, trong khi đảo Saipan nằm trọn trong vùng mắt bão mới đã mở rộng đáng kể.[cần dẫn nguồn] Sang ngày hôm sau, Sinlaku đã hoàn tất chu kỳ thay thế thành mắt bão và suy yếu xuống mức tương đương bão Cấp 3 khi bắt đầu chuyển hướng về phía bắc.[cần dẫn nguồn] Sinlaku tiếp tục suy yếu thành bão nhiệt đới vào ngày 19 tháng 4 trước khi chuyển đổi sang dạng xoáy thuận ngoại nhiệt đới vào ngày hôm sau, JTWC phát bản tin cảnh báo cuối cùng lúc 21:00 UTC khi nó bắt đầu mất đi trạng thái nhiệt đới.[53]

Tại Micronesia, bão Sinlaku đã làm 1 người chết và 1 người khác mất tích.[54] Quần đảo Bắc MarianaGuam đã chịu ảnh hưởng do bão khi sáu người đã mất tích sau khi một tàu chở hàng bị lật.[55] Các trạm khí tượng tại hai hòn đảo trên đã ghi nhận gió mạnh do bão. Trạm quan trắc Tinian Sutron ghi nhận tốc độ gió trung bình trong 10 phút liên tục 147 km/h (cấp 13), gió giật 243 km/h (trên cấp 17). Tổng cộng có 12 người chết do bão (trong đó 10 người chết do tác động trực tiếp của bão).[56][57]

Bão nhiệt đới Hagupit (Caloy)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại5 tháng 5 – 15 tháng 5
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  998 hPa (mbar)

Vào ngày 4 tháng 5, JTWC đã đánh dấu một vùng áp thấp cách Chuuk 67 hải lý (124 km) về phía tây bắc, với xác suất hình thành thấp.[58] Ngày hôm sau, JTWC đã đưa ra Cảnh báo Hình thành Bão Nhiệt đới (TCFA) khi tâm xoáy thuận tầng thấp (LLCC) bị che khuất, với sự đối lưu mạnh mẽ đang hình thành trên tâm và các dải mây hình thành ngày càng tăng.[59] Cuối ngày hôm đó, lúc 04ː00 ngày 6 tháng 5 (21:00 UTC, ngày hôm trước), JTWC đã đặt tên cho hệ thống này là Áp thấp nhiệt đới 05W.[60] JTWC tiếp tục nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới lúc 07:00 (00ː00 UTC), JMA cũng làm theo và đặt tên là Hagupit, khi cơn bão đi qua các điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển.[61] Vào lúc 01:00 ngày 7 tháng 5 (18ː00 UTC, ngày hôm trước), ảnh vệ tinh đa phổ (MSI) cho thấy cơn bão có đặc điểm mây rõ rệt của dòng chảy nghịch xoáy, trong khi ảnh vi sóng cho thấy các cụm mây đối lưu hoạt động mạnh.[62] Vào ngày 9 tháng 5, Hagupit đi vào khu vực trách nhiệm dự báo bão của PAGASA (PAR) lúc 17ː00 (18:00 PHT — tức 10:00 UTC) và được PAGASA đặt tên là Caloy.[63] Vào lúc 10:00 ngày 10 tháng 5 (03ː00 UTC), Hagupit suy yếu thành áp thấp nhiệt đới khi di chuyển về hướng bắc-tây bắc trong điều kiện không thuận lợi.[64] Trung tâm Dự báo Bão Liên hợp (JTWC) đã đưa ra bản tin cuối cùng vào ngày 11 tháng 5 khi Hagupit tiếp tục suy yếu thành vùng áp thấp tàn dư.[65] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) tiếp tục theo dõi Hagupit như một vùng áp thấp trước khi nó bị hạ cấp thành vùng áp thấp tàn dư vào ngày 15 tháng 5. Những tàn dư của Hagupit đã cố gắng tái cấu trúc, JTWC đã phân tích những tàn dư này như một thực thể riêng biệt, tuy nhiên nó đã thất bại trong việc tái cấu trúc và sau đó tan rã.[cần dẫn nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội Jangmi (Domeng)

sửa
Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại26 tháng 5 – 3 tháng 6
Cường độ cực đại110 km/h (70 mph) (10 phút)  975 hPa (mbar)

Vào ngày 25 tháng 5, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng nhiễu động ở phía đông nam của Yap, ghi nhận các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành xoáy thuận nhiệt đới.[66] Khả năng phát triển được nâng lên mức trung bình vào ngày 26 tháng 5,[67] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã phân loại nó là một vùng áp thấp nhiệt đới vào cuối ngày hôm đó.[68] Một thời gian ngắn sau, JTWC đã ban hành cảnh báo về khả năng hình thành bão nhiệt đới (TCFA).[69] Vào ngày 27 tháng 5, JMA đã nâng cấp hệ thống này thành Bão nhiệt đới "Jangmi",[70] trong khi JTWC đặt tên cho nó là "06W".[71] Sau khi đi vào khu vực trách nhiệm dự báo bão của Philippines (PAR) vào ngày 29 tháng 5, PAGASA đã đặt tên cho nó là "Domeng".[72] Jangmi mạnh lên thành bão cấp 1 vào ngày 30 tháng 5 theo đánh giá của JTWC,[73] JMA cũng nâng cấp nó thành bão nhiệt đới mạnh.[74] Nó suy yếu thành bão nhiệt đới vào ngày 1 tháng 6 do cấu trúc suy yếu và sự xâm nhập của dòng không khí khô và lạnh phía tây nam Nhật Bản.[75] Jangmi đổ bộ vào tỉnh Wakayama,Nhật Bản vào ngày 3 tháng 6[76] trước khi chuyển thành bão ngoại nhiệt đới vào cuối ngày hôm đó.[77]

Theo Hội đồng Giảm thiểu và Quản lý Rủi ro Thảm họa Quốc gia (NDRRMC), 85.295 người đã phải sơ tán tại Vùng tự trị Hồi giáo Mindanao (BARMM), nơi thiệt hại về cơ sở hạ tầng lên tới 3,4 triệu peso Philippines (55,055.42 USD$).[78] Tại Nhật Bản, tổng cộng có 23 người bị thương, trong đó có 17 người ở Okinawa và hai người ở tỉnh Kagoshima; 48 ngôi nhà cũng bị hư hại một phần ở Kagoshima.[79] Lũ lụt xảy ra ở quận Saiwai, KawasakiŌta, Tokyo, trong khi một phần của Quốc lộ 371 Nhật Bản bị sập. Sự cố mất nước đã ảnh hưởng đến 1.800 hộ gia đình ở Ōme, Tokyo, và cành cây đổ đã làm gián đoạn tuyến Hachiko Line giữa Haijima và Komagawa.[80]

Áp thấp nhiệt đới Ester (JMA TD 09) (ATNĐ tháng 6 trên biển Đông)

sửa
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp cận nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại3 tháng 6 – 6 tháng 6
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1002 hPa (mbar)

Vào ngày 3 tháng 6, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu đưa ra các cảnh báo về một vùng áp thấp nhiệt đới tại Biển Đông.[81] JTWC cũng bắt đầu theo dõi hệ thống này vào ngày hôm sau, khi nó trở nên rộng hơn và rõ nét hơn trong khi di chuyển về phía đông bắc hướng tới Đài Loan.[cần dẫn nguồn] Áp thấp này đi vào khu vực dự báo thời tiết do PAGASA phụ trách (PAR) lúc 04:00 ngày 5 tháng 6(05ː00 PHT — tức 21ː00 UTC ngày hôm trước), và PAGASA đã đặt tên cho nó là "Ester".[82] Cùng ngày hôm đó, JTWC đã cập nhật hệ thống này là một áp thấp cận nhiệt đới.[cần dẫn nguồn] Vào tối ngày 5 tháng 6, cấu trúc của vùng áp thấp đã bị phân tán đáng kể khi đổ bộ vào Đài Loan, do địa hình vô cùng hiểm trở của hòn đảo này.[cần dẫn nguồn] Sự tương tác trên đất liền này đã gây ra sự mở rộng của luồng không lưu yếu ở tầng thấp khi nó bắt đầu di chuyển nhanh về phía đông bắc.[83] Tuy nhiên, vào ngày 7 tháng 6, JTWC đã nâng cấp hệ thống này lên thành bão cận nhiệt đới khi nó di chuyển nhanh ngoài khơi bờ biển phía nam Nhật Bản.[84]

Bão Mekkhala (Francisco)

sửa
Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại18 tháng 6 – 27 tháng 6
Cường độ cực đại185 km/h (115 mph) (10 phút)  925 hPa (mbar)

Vào ngày 15 tháng 6, JTWC đã xác định một vùng áp thấp không có tổ chức hình thành ở phía đông nam Guam, với hình ảnh vệ tinh cho thấy vùng nhiễu động này nằm trong môi trường cận biên cho sự hình thành xoáy thuận nhiệt đới.[85] .Ba ngày sau, vào lúc 19:00 (12ː00 UTC), JTWC đã đưa ra cảnh báo TCFA cho hệ thống này, cho rằng nó sẽ phát triển thành một cơn bão nhiệt đới trong vòng 24 đến 48 giờ.[86] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) cũng đã xếp loại cho hệ thống này là áp thấp nhiệt đới vào cùng ngày. [87] Chín giờ sau, vào lúc 04ː000 ngày 19 tháng 6 (21:00 UTC ngày 16 tháng 6), JTWC đã nâng cấp hệ thống này thành áp thấp nhiệt đới, đặt tên là 07W.[88] Vào lúc 01ː00 ngày 20 tháng 6 (18:00 UTC ngày hôm trước), 07W đã mạnh lên thành bão nhiệt đới và được Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đặt tên là Mekkhala.[89]Hình ảnh vệ tinh cho thấy một vùng mây mù dày đặc ở trung tâm (CDO) vẫn tồn tại, che khuất một phần phía đông bắc của LLCC.[90] Mekkhala đã đi vào khu vực PAR lúc 21ː00 (22:00 PHT — tức 14ː00 UTC) ngày 20 tháng 6, PAGASA đã đặt cho nó tên địa phương là Francisco.[91] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã nâng cấp Mekkhala thành một cơn bão nhiệt đới mạnh vào sáng sớm hôm sau khi nó di chuyển qua môi trường rất thuận lợi.[92] Luồng khí thoát ra mạnh theo hướng xuyên tâm và các dải xoắn ốc rõ nét của đối lưu sâu đã khiến JTWC nâng cấp bão Mekkhala lên thành bão cấp 1 vào lúc 09:00 UTC.[93] Hệ thống này đã được nâng cấp lên thành bão cấp 2 vào lúc 01ː00 ngày 22 tháng 6 (18:00 UTC ngày hôm trước),[94] PAGASA cũng đã nâng cấp nó lên thành bão cuồng phong trong bản tin lúc 16ː00 (17:00 PHT — tức 10ː00 UTC) cùng ngày.[95] Ngày hôm sau, nó mạnh lên thành bão cấp 3 vào lúc 7ː00 (00:00 UTC) ngày 22 tháng 6.[96] Nó mạnh lên thành bão cấp 4 vào lúc 19ː00 (12:00 UTC) cùng ngày.[97] PAGASA cũng đã nâng cấp hệ thống này thành siêu bão trong bản tin lúc 22ː00 (23:00 PHT — tức 15ː00 UTC) ngày 22 tháng 6, với tốc độ gió 185 km/h.[98] Nhưng vào ngày hôm sau, hệ thống suy yếu và PAGASA đã hạ cấp nó xuống cấp độ bão cuồng phong trong bản tin lúc 10ː00 (11:00 PHT— tức 03ː00 UTC).[99] Cơn bão bắt đầu suy yếu dần vào ngày 23 tháng 6 khi Mekkhala di chuyển chậm vào vùng có điều kiện kém thuận lợi hơn; khu vực này đặc trưng bởi hiện tượng nước trồi mạnh (đưa nước lạnh hơn lên bề mặt) kết hợp với độ đứt gió ở mức trung bình từ hướng bắc-đông bắc, với tốc độ từ 20 đến 25 hải lý trên giờ (37 đến 46 km/h; 23 đến 29 mph) theo hướng bắc-đông bắc.[100] Mekkhala bị hạ cấp xuống thành bão nhiệt đới vào lúc 16ː00 (09:00 UTC) ngày 25 tháng 6; Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã xếp loại hệ thống này là bão nhiệt đới mạnh trong khi nó tiếp tục chịu tác động của gió cắt ở mức từ thấp đến trung bình trong quá trình thoát khỏi PAR.[101][102][103] Cùng ngày, các cảnh báo bão đã được ban hành tại Okinawa khi hệ thống này tiến gần đến khu vực quần đảo.[104] Mekkhala di chuyển về phía tây bắc, quét qua bờ biển Nhật Bản khi nó với cường độ là một cơn bão nhiệt đới. Ngày 27 tháng 6, hệ thống trở thành bão ngoài nhiệt đới.[cần dẫn nguồn]

Hai người chết ở Đài Loan, một người ở Cao Hùng và một người khác ở huyện Tân Trúc. Một người khác ở huyện Tân Trúc mất tích. Bốn người bị thương ở Nhật Bản.[105]Tại Nhật Bản , cơn bão gây ra mưa lớn làm tràn một hồ chứa ở tỉnh Hiroshima và ảnh hưởng đến một số nhà dân. Hai người thiệt mạng và một người khác bị thương do một vụ tai nạn chèo thuyền liên quan đến cơn bão ở tỉnh Ehime trong khi một vụ sạt lở đất gây ra một cái chết khác ở tỉnh Yamaguchi .[106] Bốn người khác bị thương trên khắp Nhật Bản. [107]

Bão nhiệt đới Higos (Gardo)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 6 – 27 tháng 6
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10 phút)  998 hPa (mbar)

Ngày 21 tháng 6, Trung tâm Dự báo Bão Liên hợp (JTWC) ghi nhận một vùng áp thấp kém tổ chức nhưng đang mạnh lên, hình thành cách Guam 817 km về phía đông. Mặc dù dự kiến ​​phát triển chậm, vùng nhiễu động này nằm trong môi trường thuận lợi cho sự hình thành bão nhiệt đới.[108] Ngày hôm sau, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) bắt đầu đưa ra các bản tin cảnh báo về hệ thống này, công nhận nó là một áp thấp nhiệt đới.[109] Vào lúc 18ː00 (11:00 UTC), JTWC đã đưa ra cảnh báo TCFA, lý do là một đám mây đối lưu lớn (LLCC) đang hợp nhất với sự hình thành liên tục của vùng đối lưu sâu xung quanh tâm.[110] JTWC đã chỉ định đặt vùng nhiễu động này là 08W tại 22ː00 (15:00 UTC).[111] Vào lúc 07ː00 (00:00 UTC) ngày 23 tháng 6, 08W đã được nâng cấp thành bão nhiệt đới, JMA đã đặt tên cho nó là Higos.[112] Vào ngày 23 tháng 6, Higos suy yếu trở lại thành áp thấp nhiệt đới với sức gió 35 dặm/giờ (55 km/h) và áp suất 1003 hPa (mbar).[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, Higos đã tái đạt cấp độ bão nhiệt đới vào lúc 21:00 UTC ngày 24 tháng 6.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 14ː00 (15:00 PHT— tức 07ː00 UTC) ngày hôm sau, Higos đi vào Khu vực Trách nhiệm dự báo của Philippines (PAR) và được PAGASA đặt tên địa phương là "Gardo".[113] Sau đó, hệ thống rời khỏi PAR lúc 08ː30 (09:30 PHT— tức 01ː30 UTC). [114][115]. Sau đó, chuyển hướng mạnh bắc rồi chuyển hướng tây bắc sẽ gây ra hiệu ứng Fujiwara ở mức độ nhẹ với bão Mekkhala tại Nhật Bản.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 03ː25 ngày 27 tháng 6 (05:25 JST — tức 20ː25 UTC, ngày hôm trước), Higos tiến gần bờ biển Nhật Bản khi nó di chuyển hướng Tây Bắc sau đó chuyển hướng Đông Bắc và đổ bộ tại bán đảo Izu. Một giờ sau nó đổ bộ tại bán đảo Boso.[cần dẫn nguồn] Tối hôm đó, Higos trở thành bão ngoại nhiệt đới và ngay sau đó nó bị thấp thụ hệ thống bão ngoại nhiệt đới khác ở phía bắc.[cần dẫn nguồn]

Siêu bão Bavi (Inday)

sửa
Siêu bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại30 tháng 6 – 15 tháng 7
Cường độ cực đại205 km/h (125 mph) (10 phút)  910 hPa (mbar)
Ảnh vệ tinh bão Bavi khi đạt đỉnh lần 1

Vào ngày 25 tháng 6, JTWC đã đánh dấu một vùng áp thấp hình thành cách Kwajalein 901 nm (1.669 km) về phía đông nam.[116] Bốn ngày sau, lúc 20ː00 (13:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã đưa ra Cảnh báo Hình thành Bão Nhiệt đới (TCFA) cho hệ thống này, cho thấy vùng nhiễu động đã dần dần mạnh lên trong điều kiện thuận lợi.[117] Vào lúc 19ː00 (21ː00 JST) ngày 30 tháng 6, cơ quan khí tượng Nhật Bản (JMA) đã cập nhật hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới. [cần dẫn nguồn] Sáng sớm ngày hôm sau, JTWC cũng nâng cấp hệ thống này từ vùng áp thấp lên thành áp thấp nhiệt đới, đặt kí hiệu là 09W.[118] Vào lúc 7:00 (0:00 UTC) ngày 2 tháng 7, áp thấp nhiệt đới 09W đã được JMA công nhận là bão nhiệt đới và được đặt tên là Bavi.[119] Sau đó, Bavi đã trải qua quá trình tăng cường nhanh chóng, mạnh lên từ 70 kn (80 mph; 130 km/h) đến 125 kn (145 mph; 230 km/h) mắt bão được xác định rõ .[120][121][122][123][124] Lúc 4:00 ngày 4 tháng 7 (21:00 UTC ngày hôm trước), JTWC đã nâng cấp Bavi thành siêu bão cấp 5.[125] Sau đó, JMA nâng cấp Bavi lên thành siêu bão cuồng phong.[126]Mười hai giờ sau, lúc 11ː00 ngày 5 tháng 7 (04:00 UTC) sức gió của Bavi giảm nhẹ xuống 250 km/h (155 mph) do chu kỳ thay thế một phần thành mắt bão [127], sau đó Bavi trở lại thành siêu bão tương đương cấp 5 lúc 13:00 ngày 5 tháng 7 (06:00 UTC) sau khi hoàn thành chu kỳ thay thế thành mắt bão và đạt cực đại 285 km/h (180 mph) và áp suất trung tâm là 901 hPa (mbar; 26,61 inHg). Vào ngày 7 tháng 7, khi siêu bão Bavi tiến vào biển Philippines, nó trải qua một chu kỳ thay thế thành mắt bão khác, khiến bão suy yếu xuống còn 250 km/h (155 mph) và giảm xuống thành bão cấp 4.[123]Trong ngày hôm đó PAGASA đặt tên địa phương cho Bavi là Inday, mặc dù nó vẫn nằm ngoài khu vực trách nhiệm dân sự của Philippines (PAR) cho đến khi thực sự đi vào lúc 02:00 giờ ngày 8 tháng 7 (19:45 UTC ngày hôm trước). [128]. Tuy nhiên, vào ngày 9 tháng 7, sự gia tăng sức gió đứt và chu kỳ thay thế thành mắt bão thứ ba đã khiến cơn bão suy yếu xuống và chuyển hướng đột ngột về phía tây bắc do bị một dải áp cao cận nhiệt đới hút vào. [cần dẫn nguồn]. Bão mạnh lên trở lại và đổ bộ vào lúc 10:20 tối ngày 11 tháng 7 (15:20 UTC), Bavi đổ bộ vào thành phố Ngọc Hoàn với sức gió duy trì 144 km/h. Hai mươi phút sau, bão tiếp tục đổ bộ tại vào thành phố Nhạc Thanh.[129][130][131][132]. Khoảng 6 giờ 20 phút tối ngày 14 tháng 7 (11:20 UTC), tâm bão Bavi đổ bộ vào bờ biển tỉnh Nam Pyongan, Triều Tiên. Khoảng 7 giờ sáng, cơn bão đã bao trùm một vùng frông trên Biển Nhật Bản và chuyển thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới.

Tại Guam, cơn bão gây ra mưa xối xả và gió rất mạnh từ cơn bão.Tại Quần đảo Bắc Mariana, thiệt hại lớn đã được báo cáo, bao gồm lũ lụt và gió mạnh. Một sự cố mất điện trên toàn đảo đã được báo cáo ở Saipan. Bavi gây ra mưa lớn và sạt lở đất khiến 17 người thiệt mạng và 9 người khác mất tích trên khắp Philippines. Tại tỉnh Okinawa, Bavi đã gây ra 12 thương tích nhẹ và khiến 82.939 người phải sơ tán.[133] Tại Đài Loan, Bavi gây mưa lớn kỷ lục (gần 80 cm tại Miêu Lý) và lũ lụt, làm 113 đến 134 người bị thương (không có tử vong). Hơn 200 chuyến bay quốc tế và nội địa bị hủy.[134] Bão đổ bộ tại tỉnh Chiết Giang (tại Thành phố Ngọc Hoàn và Thành phố Nhạc Thanh) gây ngập lụt, bật gốc hàng loạt cây xanh và sạt lở đất đá ở vùng núi. Hơn 2,8 triệu người phải sơ tán (chủ yếu ở Chiết Giang), chưa có báo cáo thương vong.

Gió giật cấp 16 (184-201 km/h) đã được ghi nhận tại một số trạm ở tỉnh Chiết Giang như trạm Thượng Đại Trần, quận Tiêu Giang; trạm đảo Nhất Toán, huyện cấp thị Ôn Lĩnh; trạm Thẩm Áo, huyện cấp thị Ôn Lĩnh.[135]

Bão nhiệt đới dữ dội Maysak (Henry) - Bão số 1

sửa
Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại1 tháng 7 – 7 tháng 7
Cường độ cực đại95 km/h (60 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Vào ngày 29 tháng 6, một vùng đối lưu đã phát triển cách Manila 591 nm (1.095 km) , với hình ảnh vệ tinh cho thấy LLCC kéo dài với sự đối lưu không có tổ chức trên toàn bộ vùng rìa phía bắc.[136] Vào lúc 09:00 ngày 1 tháng 7 (02:00 UTC), PAGASA đã nâng cấp nhiễu động thành áp thấp nhiệt đới, đặt tên địa phương là Henry .[cần dẫn nguồn] Trong khi đó, vào lúc 04ː00 ngày 2 tháng 7 (21:00 UTC, ngày hôm trước), JTWC đã nâng cấp khả năng mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới lên mức cao, dẫn đến việc đưa ra cảnh báo TCFA khi Henry di chuyển qua các điều kiện thuận lợi.[137] Vào ngày 2 tháng 7, Henry sau đó được JTWC chỉ định là 10W khi cơ quan này làm theo.[138] Khi Henry di chuyển về phía bắc, JMA đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới vào lúc 01ː00 ngày 3 tháng 7 (18:00 UTC, ngày hôm trước), và được đặt tên là Maysak.[cần dẫn nguồn].Vào lúc 17:20 ngày 3 tháng 7, bão Maysak đổ bộ lần đầu tiên gần Lăng Thủy, tỉnh Hải Nam.[139] Sau khi đi qua đảo Hải Nam, bão số 1 (Maysak) tiến vào vịnh Bắc Bộ với cường độ xấp xỉ cấp 9 (79 km/h), áp suất là 996 hPa (mBar). [cần dẫn nguồn]Khi Maysak di chuyển qua Vịnh Bắc Bộ, JMA đã nâng cấp nó thành một cơn bão nhiệt đới dữ dội. Lúc 22 giờ ngày 4 tháng 7, bão đổ bộ vào Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với gió duy trì cấp 8-9, giật cấp 11-12.[140]

Vào ngày 1 tháng 7, Cục Khí tượng và Địa vật lý Ma Cao (SMG) đã phát tín hiệu số 1 lúc 23:00 MST (15:00 UTC)[141].  Vào ngày 2 tháng 7, Đài thiên văn Hồng Kông (HKO) đã phát tín hiệu dự phòng số 1 lúc 07:40 HKT (23:40 UTC). [142] Vào ngày 3 tháng 7, SMG đã phát Tín hiệu số 3 lúc 20:00 MST (12:00 UTC).[143] Vào ngày 4 tháng 7, HKO đã hủy bỏ tất cả các Tín hiệu Cảnh báo Bão nhiệt đới lúc 03:20 HKT (19:20 UTC) và ban hành Tín hiệu Gió mùa mạnh ngay sau đó. [144]Lúc 06:00 MST (22:00 UTC), SMG đã ban hành Tín hiệu số 1. [145]. Vào lúc 12:30 MST (04:30 UTC), SMG đã hủy bỏ Tín hiệu số 1.[146] Vào lúc 16:45 HKT (08:45 UTC), HKO đã hủy bỏ Tín hiệu Gió mùa mạnh.[147]

Tại Quảng Tây, trên vùng biển vịnh Bắc Bộ và dọc bờ biển các địa cấp thị Phòng Thành Cảng, Khâm Châu đã xuất hiện gió mạnh cấp 10–11, gió mạnh cục bộ đạt cấp 12 trở lên.[148] Mưa lớn trên diện rộng xuất hiện tại Quảng Tây,[148] tại trạm quan trắc khí tượng Bát Phụng (gần hồ chứa Bách Hợp, huyện Tân Dương, địa cấp thị Nam Ninh) và hồ chứa Tam Xoa (huyện cấp thị Hoành Châu, địa cấp thị Nam Ninh) đo được tổng lượng mưa 521,8mm trong 12 giờ và tổng lượng mưa 745,7mm trong 24 giờ.[149] Cũng tại Quảng Tây, một số hồ chứa ở thành phố cấp huyện Hoành Châu, địa cấp thị Nam Ninh đã xảy ra hiện tượng nước tràn qua đỉnh đập và xuất hiện điểm nứt vỡ,[150] lũ lụt đã làm làm 159 người chết và 10 người mất tích.[151] Thiệt hại kinh tế do bão Maysak trực tiếp gây ra tại Quảng Tây lên tới 22,18 tỉ nhân dân tệ (3,28 tỉ USD).[152] Một cây cầu ở tình Hồ Nam bị sập làm 2 người mất tích.[153] Bão Maysak đã tạo ra 10 cơn lốc xoáy.[154] Tại tỉnh Hồ Bắc ghi nhận 2 cơn lốc xoáy cường độ EF3;[154] tỉnh này ghi nhận 12 người chết do lốc xoáy.[155]

Tại đặc khu Bạch Long Vĩ đã đo được sức gió khoảng cấp 9, giật cấp 10 khi bão càn quét qua nơi đây vào sáng ngày 4 tháng 7.[156] Cô Tô, Cửa Ông, Quảng Hà (Quảng Ninh) có gió mạnh cấp 8; Móng Cái (Quảng Ninh) có gió mạnh cấp 9, giật cấp 12.[157] Chỉ riêng tại tỉnh Quảng Ninh, bão số 1 đã gây ra thiệt hại khoảng 20 tỉ đồng cho khu vực Móng Cái, đặc khu Cô Tô, không có thiệt hại về người.[158]

Bão nhiệt đới Haishen (Josie)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại13 tháng 7 – 14 tháng 7
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  1002 hPa (mbar)

Vào ngày 7 tháng 7, JTWC bắt đầu theo dõi một vùng nhiễu động nằm trên quần đảo Marshall. [cần dẫn nguồn] Trong vài ngày tiếp theo, vùng nhiễu động di chuyển về phía đông nam trước khi hướng về phía đông bắc. Vào ngày 12 tháng 7, vùng nhiễu động trở nên có tổ chức hơn, khiến JMA phân loại hệ thống này là một vùng áp thấp nhiệt đới. [cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau, nó tiếp tục mạnh lên thành một cơn bão nhiệt đới, được đặt tên là Haishen, và JTWC cũng đưa ra cảnh báo TCFA cho hệ thống này lúc 10:00 ngày 13 tháng 7 (03:00 UTC). [159] PAGASA cũng đưa ra cảnh báo bão nhiệt đới cùng ngày lúc 10:00 ngày 13 tháng 7 (03:00 UTC).[160] Tuy nhiên, JTWC vẫn giữ nguyên phân loại hệ thống là một vùng nhiễu động hình thành xoáy thuận nhiệt đới ở mức cao (97W). Sau đó, nó duy trì ở mức cường độ tối thiểu cần thiết để trở thành bão nhiệt đới mà không phát triển thêm. Vào lúc 23:30 ngày 13 tháng 7 (16:30 UTC) Haishen đã đi vào Khu vực Trách nhiệm Philippines (PAR) và được PAGASA đặt tên địa phương là "Josie".[161] Trong khi đó, JMA tiếp tục theo dõi Haishen, hạ cấp thành áp thấp nhiệt đới lúc 07:00 ngày 14 tháng 7 (00:00 UTC).[162] Lúc 10:30 ngày 14 tháng 7 (03:30 UTC), JTWC đã hủy bỏ cảnh báo TCFA của mình khi Haishen tan biến do gió đông mạnh vừa phải.[163] Đến 19:00 cùng ngày (12:00 UTC), áp thấp nhiệt đới tiếp tục suy yếu thành một hệ thống áp thấp tàn dư.

Bão Haishen là cơn bão nhiệt đới đầu tiên được Cơ quan Khí tượng Nhật Bản công nhận nhưng không được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp công nhận kể từ bão Mulan năm 2022.[cần dẫn nguồn] Haishen chỉ tồn tại với tư cách là một cơn bão nhiệt đới trong khoảng 24 giờ, nó tồn tại với tư cách là một áp thấp nhiệt đới trong khoảng 32 giờ. Tức là hệ thống hình thành một khoảng thời gian rất ngắn (2 ngày). Sau đó, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp sau đó đã sửa đổi hệ thống để cho thấy nó đạt cường độ của áp thấp nhiệt đới lúc 18:00 UTC ngày 12 tháng 7 và không đặt kí hiệu cho nó.[164]

Bão Noul (Kiyapo) - Bão số 2

sửa
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 7 – 27 tháng 7
Cường độ cực đại140 km/h (85 mph) (10 phút)  960 hPa (mbar)

Vào ngày 21 tháng 7, JTWC đã đánh dấu một vùng áp thấp hình thành ở vị trí cách Yap 253 nm (469 km) và đặt ký hiệu là 92W.[165] Vào lúc 13 giờ ngày 22 tháng 7 (15ː00 JST), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và cảnh báo gió mạnh.[cần dẫn nguồn] Đến khoảng 19 giờ cùng ngày (tức khoảng 20 giờ PHT) thì PAGASA cũng nâng cấp hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên cho là Kiyapo.[166] Lúc 3ː00 ngày 23 tháng 7 (20:30 UTC, ngày hôm trước), JTWC đã đưa ra TCFA trích dẫn việc áp thấp khả năng hình thành xoáy thuận nhiệt đới rất cao. [167] Vào lúc 4 giờ chiều (09:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp cũng làm theo chỉ định Kiyapo11W. [168] Sau đó cùng ngày, JMA và JTWC đã nâng cấp 11W thành bão nhiệt đới và đặt tên là Noul . [169] Khi tiếp tục mạnh lên đều đặn, Noul đã đổ bộ vào đảo Camiguin ở Calayan, Cagayan vào ngày hôm sau lúc 13:10 (14:10 PHT - tức 06:10 UTC).[170][171] Vào lúc 4 giờ chiều (09:00 UTC) Cơ quan Khí tượng Nhật Bản và PAGASA cũng nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới dữ dội. [172][173] Cơn bão tiếp tục mạnh lên khi di chuyển về phía tây bắc khiến cả ba cơ quan đều nâng cấp nó thành bão cuồng phong. Sau đó, vào lúc 07:00 (00:00 UTC) vào ngày 25 tháng 7 Noul rời khỏi PAR. Vào khoảng 2 giờ 50 phút sáng (19:00 UTC, ngày hôm trước) Noul đã đổ bộ lần thứ hai tại Trung Quốc.[cần dẫn nguồn] Sau khi đổ bộ, Noul bắt đầu suy yếu nhanh chóng sau đó tan vào ngày 27 tháng 7. [cần dẫn nguồn]

Theo thống kê về ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão Noul trên toàn tỉnh Quảng Đông từ 08:00 ngày 25 đến 08:00 ngày 26 tháng 7 giờ Bắc Kinh, về tốc độ gió trung bình (gió mạnh) tối đa trong bão, có 1 trạm đo được gió mạnh cấp 14, 9 trạm đo được gió cấp 12.[174][175]

Siêu bão Dolphin

sửa
Siêu bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại26 tháng 7 – 13 tháng 8
Cường độ cực đại205 km/h (125 mph) (10 phút)  910 hPa (mbar)

Ngày 19 tháng 7, Trung tâm Bão Trung Thái Bình Dương bắt đầu theo dõi một vùng nhiễu động nhiệt đới trong khu vực trách nhiệm của họ. Bảy ngày sau, vùng nhiễu động này được đặt tên là Invest 92C.[176] Sau đó, vào ngày 26 tháng 7, vùng nhiễu động này di chuyển vào lưu vực Tây Thái Bình Dương, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản ngay lập tức phân loại hệ thống này là áp thấp nhiệt đới và cảnh báo gió mạnh.[cần dẫn nguồn] Lúc 7 giờ sáng ngày 27 tháng 7, (00:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đặt cho nó ký hiệu 12W.[177] Lúc 14:15 (07:15 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới, đặt cho nó tên là Dolphin,[178] JTWC cũng nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới ngay sau đó.[179] Gần như ngay sau khi được đặt tên, Dolphin bắt đầu giai đoạn tăng cường nhanh, nhanh chóng trở thành một cơn bão và đạt cường độ cực đại ban đầu tương đương cấp 4 trên thang bão Saffir-Simpson trong ngày 28 tháng 7, trước khi sự tăng cường nhanh bị ngăn cản bởi chu trình thay thế thành mắt bão.[cần dẫn nguồn] Khi đã hoàn thành chu trình thay thế thành mắt bão, nó mạnh lên trở lại, đạt cấp siêu bão cuồng phong vào chiều tối cùng ngày hôm đó.[cần dẫn nguồn] Sau khi kết thúc, Dolphin tiếp tục mạnh lên một lần nữa, đạt đến cấp siêu bão vào ngày hôm sau. [cần dẫn nguồn] Ngay sau khi đạt đến cấp siêu bão, Dolphin bắt đầu trải qua chu kỳ thay thế thành mắt bão thứ hai, tạm thời ngăn chặn sự phát triển hơn nữa của cơn bão. [180] Vào lúc 1 giờ sáng ngày 1 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã hạ cấp độ bão xuống còn bão cuồng phong rất mạnh. Vào lúc 7 giờ sáng ngày 1 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã hạ cấp độ bão xuống còn bão cuồng phong rất mạnh. Vào ngày 4 tháng 8 sau khi thany mắt bão lần thứ 4, Dolphin một lần nữa đi vào điều kiện thuận lợi và nhanh chóng mạnh lên thành bão cấp 4.[181] Vài giờ sau, nó đổ bộ đảo Bắc Iwo Jima.[cần dẫn nguồn] và đi vào điều kiện không thuận lợi và suy yếu trở lại thành bão cấp 2.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 10 giờ đêm (15:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã hạ cấp nó xuống thành mức bão cuồng phong. Vào ngày 9 tháng 8, Dolphin đổ bộ vào Yuhuan thuộc tỉnh Chiết Giang của Trung Quốc lúc 16:30 (17:30 CST — tức 09:30 UTC) ngày 9 tháng 8, tiếp theo là lần đổ bộ thứ hai vào Ôn Châu một giờ sau đó, gần như chính xác cùng một vị trí mà Bavi đã đổ bộ gần một tháng trước đó. [182]

Mặc dù hệ thống vẫn nằm ngoài PAR, lượng mưa đáng kể đã được ghi nhận ở Metro Manila và 23 tỉnh khi Dolphin làm tăng cường gió mùa tây nam. [183]

Bão nhiệt đới Kujira (LuisMaymay) - Bão số 3

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại31 tháng 7 – 6 tháng 8 [f]
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  994 hPa (mbar)

Luồng mây tàn dư của áp thấp 93W hình thành vào ngày 28 tháng 7 ở phía đông bắc đảo san hô Ulithi và được JTWC đặt tên là 94W. Vào lúc 13 giờ ngày 31 tháng 7, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới. Lúc 19:00 ngày hôm sau (tức 12:00 UTC), PAGASA cũng nâng cấp hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới, đặt tên địa phương cho nó là Luis.[184][185] Sau đó cùng ngày, lúc 01:00 ngày 2 tháng 8 (18:00 UTC, ngày hôm trước), khi Luis nằm ở phía đông bắc của Legazpi, JTWC đã nâng khả năng của nó lên mức trung bình với lý do đối lưu tầng thấp (LLCC) đang dần củng cố.[186] Lúc 16:30 (tức 09:30 UTC hay 17:30 PHT), Luis đổ bộ vào Maconacon, Isabela.[187] Khoảng 5:00 (tức 21:00 UTC hôm trước), Luis tiến vào biển Đông sau khi vượt qua đảo Luzon, Philippines. Sau đó cùng ngày, PAGASA tuyên bố nó suy yếu thành vùng áp thấp vào cuối ngày hôm đó,[188] nhưng một phần của nó đã tách ra thành vùng áp thấp thứ hai ở Biển Đông.[189] JTWC cũng nâng cấp khả năng xảy ra lên mức cao và đưa ra TCFA một lần nữa sau khi đi qua đảo Luzon và di chuyển vào điều kiện thuận lợi hơn ở Biển Đông. Vào lúc 19:00 (20:00 PHT 12:00 UTC), tàn dư của Luis tái phát triển và được PAGASA đổi tên thành Maymay.[190] Vào lúc 01:00 (tức 18:00 UTC ngày hôm trước), cả JMA và PAGASA đều nâng cấp nó thành bão nhiệt đới và JTWC nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới, do đó có tên là Kujira [cần dẫn nguồn] và ký hiệu 13W.[cần dẫn nguồn] Vài tiếng sau, JTWC cũng nâng cấp 13W thành bão nhiệt đới. Sáng sớm ngày 6 tháng 8, lúc 02:00 PHT (18:00 UTC của ngày hôm trước), Kujira đổ bộ lần thứ hai vào Magsingal, Ilocos Sur.[191] Sau đó, cả ba cơ quan JMA, JTWC and PAGASA đều hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới.[192] Sau đó, hệ thống đi về phía Đông và tiếp tục suy yếu thành một vùng áp thấp trên biển Philippines và tan dần trong ngày hôm đó.[193][194] Kujira bị hấp thụ vào Bão Dolphin và trở thành một rãnh áp thấp, sau đó mạnh lên thành một áp thấp nhiệt đới khác.[195]

Đây là lần đầu tiên kể từ cơn bão Maysak năm 2008 mà Cơ quan Khí tượng, Địa vật lý và Thiên văn Philippines (PAGASA) đặt hai tên địa phương khác nhau cho cùng một hệ thống thời tiết.

Lũ lụt đã được báo cáo tại bảy khu vực của Bán đảo Bangsamoro và Zamboanga. Một số vụ lở đất đã xảy ra ở Dipaculao và một cột điện bị đổ đã chặn một con đường trong cùng khu đô thị này. Tổng cộng có 12.432 gia đình bị ảnh hưởng bởi bão.[196] Khi Kujira đổ bộ lần thứ hai vào Philippines, mưa xối xả đã trút xuống khắp Luzon . Một số con đường đã bị đóng cửa do ảnh hưởng của sạt lở đất và lũ lụt. Một cây cầu gỗ cũng bị phá hủy bởi lũ lụt ở Quirino . Hơn 4.700 hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở Buluan sau khi một con sông tràn bờ. Sáu người đã chết do ảnh hưởng của Kujira.[197] Trong số đó có hai người thiệt mạng sau khi một vụ sạt lở đất đè bẹp một nhà hàng ở La Trinidad, Benguet. Thiệt hại về nông nghiệp và cơ sở hạ tầng ở Pangasinan lên tới 105,7 triệu peso (1,73 triệu đô la Mỹ).[198]

Bão nhiệt đới dữ dội Chan-hom

sửa
Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại5 tháng 8 – 16 tháng 8
Cường độ cực đại95 km/h (60 mph) (10 phút)  980 hPa (mbar)

Ngày 4 tháng 8, JTWC đã đánh dấu một vùng áp thấp hình thành cách đảo Wake 116 hải lý (215 km) về phía nam-đông nam, và xếp loại nó là một vùng áp thấp gió mùa và đặt cho nó mã hiệu là nhiễu động 96W. [cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau, JMA đã nâng cấp vùng áp thấp này thành áp thấp nhiệt đới và đưa ra cảnh báo gió mạnh. Vài giờ sau, JMA tiếp tục nâng cấp áp thấp nhiệt đới này thành bão nhiệt đới, được đặt tên là Chan-hom.[199] Cơn bão có cấu trúc khá kém tổ chức, bao gồm một vùng hoàn lưu tầng thấp rộng và bị lộ một phần, với nhiều xoáy quy mô trung bình (mesovortex) nằm bên trong.[200] Vào lúc 02:30 ngày 7 tháng 8 (tức 19:30 UTC ngày hôm trước), JTWC đã đưa ra cảnh báo TCFA cho hệ thống này, dự kiến ​​nó sẽ hợp nhất và chuyển thành một hệ thống lõi ấm.[201] Vào lúc 07:00 sáng ngày 7 tháng 8 (tức 00:00 UTC), JTWC đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới, đặt kí hiệu là 14W. Tuy nhiên đến lúc 07:00 tối (tức 12:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới[202]và lại một lần nữa nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới trở lại vào ngày hôm sau.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 13 giờ ngày 11 tháng 8 (06:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó lên thành một cơn bão nhiệt đới dữ dội. Bão Chan-hom trở thành cơn bão đầu tiên đổ bộ vào đảo chính Honshu theo hướng từ đông sang tây kể từ sau cơn bão Jongdari năm 2018. Hệ thống này đổ bộ vào đất liền với sức gió 95 km/h (50 mph) tại tỉnh Ibaraki ở Nhật Bản theo quỹ đạo hiếm hoi từ đông sang tây, khiến nó trở thành cơn bão đầu tiên đổ bộ vào tỉnh Ibaraki kể từ cơn bão Mac năm 1989.

Bão nhiệt đới Peilou

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại8 tháng 8 – 13 tháng 8[g]
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10 phút)  992 hPa (mbar)

Hệ thống mây còn sót lại của cơn bão Kujira tiếp tục phát triển trên Biển Philippines. Ngày 8 tháng 8, tàn dư của bão nhiệt đới Kujira đã tái cấu trúc và mạnh lên thành một vùng áp thấp nhiệt đới. [cần dẫn nguồn] Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới lúc 10 giờ sáng ngày 8 tháng 8 (03:00 UTC). Trong khi đó, JTWC coi đây là một phần của vùng áp thấp nhiệt đới đã suy yếu từ Kujira.[cần dẫn nguồn] PAGASA sau đó cũng làm theo, phân loại nó là áp thấp.[203] Vào lúc 7 giờ tối (tức 12:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã đánh giá lại sự phát triển của hệ thống mây còn sót lại của Kujira ở mức "trung bình" và công nhận sự phát triển trở lại của nó.[204] Vào lúc 07:00 sáng ngày 9 tháng 8 (00:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã đưa ra cảnh báo gió mạnh. Đồng thời, JTWC đã nâng cấp trực tiếp lên thành bão nhiệt đới.[205] Vào lúc 13:00 chiều (06:00 UTC), cả Cơ quan Khí tượng Nhật Bản và PAGASA đều nâng cấp lên thành bão nhiệt đới, đặt tên là Peilou.[206] Đến 7:00 tối ngày 12 tháng 8 (12:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới.

Áp thấp nhiệt đới 15W (JMA TD 22)

sửa
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại9 tháng 8 – 11 tháng 8
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  996 hPa (mbar)

Ngày 6 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía tây đảo Pagan, được NRL & JTWC đặt kí hiệu là vùng nhiễu động 98W. Vào ngày 8 tháng 8, PAGASA báo cáo rằng một vùng áp thấp bên ngoài PAR đã hình thành cách phía đông bắc Luzon 2.600 km. Sau đó cùng ngày, cơ quan này cho biết vùng áp thấp đã phát triển thành áp thấp nhiệt đới.[207] Tuy nhiên JMA và JTWC chỉ phân loại hệ thống này là một vùng áp thấp.[208] Ngày hôm sau, JMA nâng cấp hệ thống này lên thành áp thấp nhiệt đới trong khi JTWC chú thích hệ thống có khả năng cao trở thành xoáy thuận nhiệt đới.[cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau, ngày 10 tháng 8, JTWC cũng làm theo, phân loại hệ thống này là áp thấp nhiệt đới 15W, đồng thời đưa ra cảnh báo.[209][210] Vào lúc 1:00 chiều (06:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới. (Tuy nhiên, trong các đánh giá và phân tích lại sau cơn bão, cơ quan này đã điều chỉnh hạ cường độ của hệ thống xuống lại cấp áp thấp nhiệt đới). Vào lúc 7:00 sáng ngày 11 tháng 8 (00:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã đưa ra cảnh báo cuối cùng về cơn áp thấp nhiệt đới này. Đến 04:00 chiều (09:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản xác định rằng nó đã tan rã và hợp nhất vào vòng xoáy của bão Peilou. Hệ thống này tồn tại trong thời gian ngắn, tan biến vào ngày 11 tháng 8 mà không ảnh hưởng đến bất kỳ khu vực đất liền nào.

Bão nhiệt đới Nangka

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại11 tháng 8 – 16 tháng 8
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Ngày 11 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở phía đông nam đảo Kitadaitō và được NRL & JTWC đặt tên là 91W. Vào lúc 7:00 sáng (00:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới. Vào lúc 1:00 chiều (06:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã đưa ra cảnh báo gió mạnh đối với nó.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 8:00 tối, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp mức độ phát triển của nó lên "trung bình".[cần dẫn nguồn] Vào lúc 07:00 (00:00 UTC) ngày 12 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới và đặt tên là Nangka.[211] Đồng thời, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp mức độ phát triển của nó lên "cao" và đưa ra cảnh báo hình thành bão nhiệt đới đối với nó.[212] Vào lúc 7 giờ tối (tức 12:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã trực tiếp nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới, đặt cho nó ký hiệu bão nhiệt đới 16W. Sau đó, điều chỉnh lại thành áp thấp nhiệt đới. Vào ngày 13 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp cũng nâng cấp nó lên lại thành bão nhiệt đới. Vào lúc 7 giờ sáng ngày 14 tháng 8 (00:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp tiếp tục hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới. Vào lúc 19:00 (12:00 UTC), JMA cũng hạ cấp nó thành áp thấp nhiệt đới.

Bão Saudel (Obet) - Bão số 5

sửa
Bão cuồng phong rất mạnh (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại15 tháng 8 – 4 tháng 9
Cường độ cực đại165 km/h (105 mph) (10 phút)  940 hPa (mbar)

Vào ngày 12 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía tây bắc đảo san hô Ujerang và NRL & JTWC đã đặt cho vùng nhiễu động này ký hiệu 92W.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 8 giờ sáng ngày 15 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới.[213] Sáu tiếng sau, JMA ngừng theo dõi 6 giờ sau đó khi hệ thống suy yếu thành vùng áp thấp.[214] Vào lúc 13 giờ ngày 16 tháng 8 (06:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó trở lại thành áp thấp nhiệt đới.[215] Đến sáng ngày 18 tháng 8, JTWC nâng khả năng nó mạnh lên thành xoáy thuận nhiệt đới lên mức cao và ban hành TCFA.[216] Sau đó, PAGASA cũng nâng cấp nó lên thành áp thấp nhiệt đới.[217]. Vào lúc 19:00 (12:00 UTC), JTWC đã nâng cấp nó lên thành áp thấp nhiệt đới, đặt cho nó ký hiệu là 17W.[cần dẫn nguồn] Sau đó, lúc 20:15 (tức 13:15 UTC), JMA đã phát hành cảnh báo gió mạnh với nó.[cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau lúc 03:00 UTC, JMA đã nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới, đặt tên cho nó là Saudel.[218] JTWC cũng làm theo sau đó cùng ngày, nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới.[219] Vào ngày 20 tháng 8, JMA đã nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới dữ dội. Ngày hôm sau, cả JMA và JTWC đều nâng cấp Saudel thành bão cuồng phong sau khi nó tăng cường nhanh chóng.[220] Vào lúc 1 giờ chiều ngày 23 tháng 8 (06:00 UTC), JMA đã nâng cấp nó lên bão cuồng phong rất mạnh. [221][222] Vào lúc 07:00 ngày 28 tháng 8 (00:00 UTC), Saudel đã đổ bộ vào Chiết Giang thuộc Trung Quốc. Ngày hôm sau, JTWC và JMA đã hạ cấp hệ thống này thành áp thấp nhiệt đới rồi hạ còn vùng áp thấp. Vào đêm ngày 30 tháng 8, vùng áp thấp từ Saudel chính thức đi vào biển Đông và ngày hôm sau, NCHMF và JMA đã nâng vùng áp thấp này thành áp thấp nhiệt đới. Sáng ngày 01 tháng 9, JMA đã nâng cấp Saudel trở lại thành bão nhiệt đới sau khi nó bắt đầu di chuyển ra vùng biển Bắc Biển Đông.[223] Sau đó, lúc 04:00 NCHMF cũng nâng cấp thành bão nhiệt đới. Lúc 13:00 ngày 01 tháng 9, JTWC nâng cấp nó lại thành bão nhiệt đới giữ nguyên cảnh báo và tên ban đầu đã làm từ trước đó [224]. Vào lúc 01:00 ngày 2 tháng 9 (18:00 UTC ngày hôm trước), JTWC đã hạ cấp bão số 5 thành áp thấp nhiệt đới và cảnh báo có thể đổ bộ vào tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Lúc 19:00 cùng ngày, JTWC đã nâng cấp thành bão và sáng ngày hôm sau bão đổ bộ vào tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.[225] Vào lúc 7 giờ tối ngày 3 tháng 9 (tức 12:00 UTC), JMA đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới.

Tại Philippines, trong khi cơn bão còn ở ngoài khu vực PAR, PAGASA đã bắt đầu đưa ra cảnh báo bão nhiệt đới để chuẩn bị cho việc nó đi vào.[226] HKO phát tín hiệu Cảnh báo sẵn sàng số 1 lúc 18:10 HKT ngày 31 tháng 8 (10:10 UTC).[227] Sau đó, SMG phát tín hiệu cảnh báo cấp 1 lúc 18:30 MST ngày 31 tháng 8 (10:30 UTC) và cơ quan này cũng cho rằng có thể nâng cấp tín hiệu cảnh bão bão nhiệt đới số 3 vào ngày 1 tháng 9 khi nó bắt đầu mạnh trở lại.[228]

Tại Nhật Bản, bão Saudel đã khiến 3 người bị thương tại tỉnh Okinawa.[229] Một vụ sạt lở đất do tàn dư của Saudel gây ra đã khiến 1 người thiệt mạng và 11 người khác mất tích ở Toại Xuyên, Giang Tây, Trung Quốc và làm hư hại 12 ngôi nhà. [230]

Bão nhiệt đới Narra - Bão số 4

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại17 tháng 8 – 27 tháng 8
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  990 hPa (mbar)

Ngày 16 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía tây nam Mũi Nga Loan và NRL & JTWC đã đặt cho nó ký hiệu cho vùng nhiễu động này là 95W. Vào lúc 8 giờ tối ngày 17 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới.[231] Ngày hôm sau, NCHMF cũng nâng cấp nó lên thành áp thấp nhiệt đới và phát tin cảnh báo về nó.[232] Tuy nhiên, hệ thống suy yếu thành vùng áp thấp vào lúc 07:00 ngày hôm sau.[233] Sau khi đi qua phía bắc Biển Đông, JMA một lần nữa chỉ định vùng áp thấp này là một áp thấp nhiệt đới vào ngày 20 tháng 8 khi đang ở trên Hải Nam và đưa ra cảnh báo đối với nó.[234] Trong khi đó, lúc 13:00 (tức 06:00 UTC) JTWC đưa ra TCFA về hệ thống này.[235] Sau đó, JTWC cũng nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên cho hệ thống là 18W.[236] Khoảng 10:30 ngày 21 tháng 8 (tức 11:30 HKT - 03:30 UTC), HKO nâng cấp hệ thống này thành bão nhiệt đới.[237] Lúc 17:00, cả hai cơ NCHMF Và CMA cũng nâng cấp nó thành bão nhiệt đới.[238][239] Vào lúc 19:00 ngày 21 tháng 8 (tức 12:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp và Cục Khí tượng Ma Cao đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới. Lúc 07:00 ngày 22 tháng 8 (tức 00:00 UTC) JMA đã nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới và đặt tên cho nó là Narra. Sau đó, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 23 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới một lần nữa. Lúc 01:00 ngày 24 tháng 8 (tức 18 UTC ngày hôm trước), bão số 4 đạt cường độ cực đại với tốc độ gió 75 km/h (45 mph) và áp suất trung tâm tối thiểu 990 mbar trong khi vẫn gần như đứng yên trên Vịnh Bắc Bộ. Tới 07:00 ngày 25 tháng 8 (00:00 UTC), Narra đi với tốc độ nhanh hơn một cơn bão và sau đó đổ bộ vào Hải Nam hạ cấp dần. Ngày 26 tháng 8 11:00 (04:00 UTC), hệ thống đổ bộ vào tỉnh Quảng Đông thuộc Trung Quốc và tan vào ngày hôm sau.

Narra gây ra lở đất và lũ lụt trên diện rộng ở vùng Bắc Bộ, khiến một người tại Lạng Sơn bị thiệt mạng.[240] Lũ quét tại Quảng Tây, Trung Quốc được đánh giá là tồi tệ nhất trong vòng 18 năm qua, với hơn 54.000 người phải sơ tán. Lũ lụt do dâng sông ở Trùng Khánh đã nhấn chìm nhiều tòa nhà ngập đến tận mái.[241]

Bão đã gây gió mạnh cấp 9 giật cấp 11 tại Bạch Long Vĩ, gió mạnh cấp 7 giật cấp 9 tại trạm Móng Cái, gió mạnh cấp 7 giật cấp 8 tại Phù Liễn (Hải Phòng).[242]

Bão nhiệt đới Gaenari (Neneng)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp gió mùa
 
Thời gian tồn tại18 tháng 8 – 25 tháng 8
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  996 hPa (mbar)

Ngày 15 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía bắc Palau và NRL & JTWC đã đặt cho nó kí hiệu 94W.[cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau, PAGASA cũng bắt đầu theo dõi hệ thống này khi nó đang ở gần PAR.[243] Ngày 18 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) tiếp tục theo dõi và ghi nhận nó là một vùng áp thấp nhiệt đới.[cần dẫn nguồn] Cùng ngày hôm đó, PAGASA rằng hệ thống này có khả năng cao mạnh lên thành xoáy thuận nhiệt đới trong 24 giờ tiếp theo,[244] sau đó lúc 13:00 (14:00 PHT - 06:00 UTC) thì cũng nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên địa phương là Neneng.[245] Vào ngày 19 tháng 8, JMA đã hạ cấp hệ thống xuống thành vùng áp thấp.[246] Tuy nhiên vài tiếng sau, JMA đã chỉ định lại vùng áp thấp này là vùng áp thấp nhiệt đới vào cuối ngày hôm đó.[247] Ngày hôm sau, PAGASA tuyên bố rằng Neneng đã suy yếu thành một vùng áp thấp khi nó rời khỏi PAR.[248] Vào lúc 10:00 sáng ngày 22 tháng 8 (03:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó lên bão nhiệt đới và đặt tên cho nó là Gaenari.[249] Ngày 23 tháng 8, một nhiễu động nhiệt đới khác hình thành ở vùng biển phía đông thành phố Cao Hùng và NRL & JTWC đã đặt cho nó số hiệu là 98W. Sau đó lúc 09:00 ngày 24 tháng 8 (02:00 UTC) JTWC đã đưa ra TCFA đối với vùng thấp 98W khi nó di chuyển dọc theo bờ biển Phúc Kiến, Trung Quốc. Gaenari đã đổ bộ ngay sau đó tại Tuyền Châu, Phúc Kiến.[250] Vào lúc 1 giờ sáng ngày 25 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới. Đến 7 giờ tối (10:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản cho rằng bão Gaenari đã tan biến.

Trong thời gian tồn tại của nhiễu động 94W, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã quan sát thấy tốc độ gió tối đa là 30 hải lý/giờ và áp suất trung tâm tối thiểu là 997 hPa, nhưng không xác định nó là áp thấp nhiệt đới. Thay vào đó, nó xác định hệ thống này là áp thấp gió mùa. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 24, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) thông báo rằng họ sẽ ngừng theo dõi và phân tích nhiễu động 94W ở vùng biển phía bắc Đài Loan vì tâm xoáy ở tầng thấp khó xác định. Họ cũng chỉ ra rằng hệ thống này không có tiềm năng phát triển thêm và do đó đã hủy bỏ xếp hạng phát triển của nó. Đây cũng là cơn bão thứ 2 mùa bão mà không được JTWC công nhận là bão nhiệt đởi và chỉ sau cơn bão Haishen đúng 1 tháng trước.

Mưa lớn gây lũ lụt ở các thành phố Cao Hùng và Đài Nam. Một người thiệt mạng và bốn người khác mất tích.[251] Tổng cộng 164 người khác bị thương. Thành phố Cao Hùng ghi nhận lượng mưa đạt 3 foot (910 mm)mm trong vòng ba ngày, phá vỡ cả kỷ lục lượng mưa hàng ngày và lượng mưa trong 3 ngày. Có 35 địa điểm được báo cáo bị ngập lụt và 21.071 khách hàng bị mất điện. Hơn 6.100 cư dân đã được sơ tán.[252] 

Bão nhiệt đới Atsani

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại22 tháng 8 – 26 tháng 8
Cường độ cực đại65 km/h (40 mph) (10 phút)  998 hPa (mbar)

Vào ngày 20 tháng 8, một nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển gần Palau và được Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ đặt tên là 97W . Sau đó, PAGASA bắt đầu theo dõi nhiễu động nhiệt đới lúc 2 giờ chiều và đánh giá khả năng phát triển thành XTNĐ của nó ở mức "trung bình".[253] Vài tiếng sau, PAGASA đã nâng cấp khả năng phát triển thành XTNĐ của hệ thống này là "cao".[254] Vào lúc 2 giờ sáng ngày 22 tháng 8, PAGASA đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và xác định rằng nó đang ở ngoài PAR.[255] Cuối ngày 21 tháng 8, PAGASA báo cáo rằng một áp thấp nhiệt đới hình thành gần Yap, ngay bên ngoài Khu vực Trách nhiệm của Philippines.[256][257] Vào thời điểm đó, JMA mới bắt đầu theo dõi nó như một vùng áp thấp[258] trong khi JTWC vừa mới chỉ định nó là Invest 97W với hệ thống có xác suất thấp trở thành một cơn bão nhiệt đới. Ngày hôm sau, JTWC đã nâng cấp nó lên mức trung bình.[259][cần dẫn nguồn] Vào lúc 4 giờ chiều, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp mức độ phát triển của nó lên "cao" và đưa ra cảnh báo hình thành bão nhiệt đới cho nó. [260][261] Vào ngày 22 tháng 8, JTWC đã nâng cấp hệ thống lên thành áp thấp nhiệt đới và đặt tên cho nó ký hiệu là 19W .[262] Vào lúc 7 giờ sáng ngày 24 tháng 8 (00:00 UTC), JMA đã nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới và đặt tên là Atsani. Vào lúc 7 giờ sáng ngày hôm sau (00:00 UTC), JMA đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới.

Bão Bang-lang

sửa
Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại25 tháng 8 – 31 tháng 8
Cường độ cực đại120 km/h (75 mph) (10 phút)  980 hPa (mbar)

Vào ngày 24 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía nam và đông nam của đảo san hô Enwetak và được NRL & JTWC đặt tên là 99W. Vào lúc 7 giờ tối ngày 25 tháng 8 (12:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới.[263] Vào lúc 6:30 sáng ngày 26 tháng 8 (23:30 UTC ngày hôm trước), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp mức độ cảnh báo lên "cao" và đưa ra TDFA cho nó.[264] Vào lúc 1 giờ chiều, JTWC đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đặt cho nó ký hiệu bão nhiệt đới 20W.[265] Vào lúc 1 giờ chiều ngày 27 tháng 8 (06:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới.[266] Vào lúc 10 giờ sáng ngày 28 tháng 8 (03:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản nâng cấp lên thành bão nhiệt đới và đặt tên cho nó là Bang-lang.[267] Vào lúc 7 giờ tối ngày 28 tháng 8 (12:00 UTC), Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã nâng cấp nó lên thành bão cuồng phong.[268] Sau đó lúc 1 giờ sáng ngày 29 tháng 8 (tức 18:00 UTC ngày hôm trứoc), JMA đã nâng cấp hệ thống lên thành bão nhiệt đới dữ dội.[269] Vào lúc 1 giờ chiều (06:00 UTC), JMA đã nâng cấp nó lên thành bão cuồng phong.[270] Sau đó JMA đã hạ cấp nó trở lại thành bão nhiệt đới dữ dội vào cùng ngày hôm đó.[271] Vào lúc 7 giờ sáng, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản xác định rằng Banlang đã chuyển thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới.

Bão nhiệt đới Etau

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại26 tháng 8 – 31 tháng 8
Cường độ cực đại75 km/h (45 mph) (10 phút)  994 hPa (mbar)

Ngày 26 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía bắc đảo Wake và được NRL & JTWC đặt tên là 91W. Lúc 7 giờ tối ngày 26 tháng 8 (12:00 UTC), JMA nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đưa ra cảnh báo gió mạnh.[272] Sau đó trong ngày, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã đưa ra Thông báo Hình thành Xoáy thuận Nhiệt đới (TCFA) cho hệ thống này, với lý do các điều kiện thời tiết thuận lợi.[273] Vào lúc 07:00 sáng ngày 27 tháng 8 (00:00 UTC), JTWC đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới, đặt cho nó ký hiệu bão nhiệt đới 21W.[274] Vào lúc 01:00 chiều ngày 27 tháng 8 (06:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành bão nhiệt đới và đặt tên là Etau.[275] Cùng lúc đó, JTWC cũng nâng cấp nó thành bão nhiệt đới.[276] Vào buổi sáng ngày 30 tháng 8, JTWC hạ cấp nó xuống áp thấp nhiệt đới.[277]

Bão nhiệt đới Krovanh (Pilandok)

sửa
Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại29 tháng 8 – 8 tháng 9
Cường độ cực đại85 km/h (50 mph) (10 phút)  985 hPa (mbar)

Vào ngày 29 tháng 8, một phần của hệ thống vẫn đang phát triển ở vùng biển phía đông Philippines và NRL & JTWC đã đặt cho nó ký hiệu nhiễu động 94W. Vào ngày 28 tháng 8, PAGASA bắt đầu theo dõi một vùng áp thấp bên ngoài PAR, đánh giá rằng nó có khả năng phát triển trung bình trong vòng 24 giờ.[278] Ngày hôm sau, PAGASA nâng mức độ khả năng phát triển lên cao. Cuối ngày hôm đó, JTWC nhận ra hệ thống này, tuyên bố rằng nó có khả năng phát triển trung bình.[279] Sau đó, JMA nhận ra hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới lúc 7 gời tối ngày 29 tháng 8.[280] Vào sáng ngày 30 tháng 8, PAGASA nhận ra hệ thống này là một áp thấp nhiệt đới, đặt tên cho nó là Pilandok.[281] Lúc 14:30, JTWC đưa ra TCFA cho hệ thống này, tuyên bố rằng nó có khả năng phát triển xoáy thuận nhiệt đới ở mức cao và phân loại nó là áp thấp gió mùa.[282] Vào lúc 7 giờ sáng ngày 1 tháng 9, JMA và PAGASA đã nâng cấp nó lên thành bão nhiệt đới và JMA đặt tên cho nó là Krovanh.[283][284] Sau đó vào chiều cùng ngày, JTWC đã nâng cấp hệ thống này thành bão nhiệt đới và đặt tên là 22W.[285] Ngày 3 tháng 9, PAGASA báo cáo rằng Krovanh đã rời khỏi PAR.[286] Vào lúc 16:30 ngày 3 tháng 9, bão Krovanh đổ bộ vào tỉnh Kagoshima của Nhật Bản và đi vào vùng biển Hoa Đông. Vào ngày 7 tháng 9, JMA cũng hạ cấp nó thành áp thấp nhiệt đới.[287]

Tại tỉnh Kagoshima, cả bão Krovanh và một đợt mưa mùa thu ở phía bắc đã mang đến lượng mưa kỷ lục cho một số khu vực ở tây nam Nhật Bản. Vào ngày 5 tháng 9, JMA đã đưa ra cảnh báo sạt lở đất khẩn cấp cấp 5 cao nhất cho Yakushima sau khi quận Onoaida của thị trấn ghi nhận lượng mưa chưa từng có là 576,5 mm trong 48 giờ.[288] Bão Krovanh mang theo gió mạnh đến Jeju, Hàn Quốc, khiến một cần cẩu bị đổ trong quá trình hoạt động tại cảng và gián tiếp làm một người chết và một người khác bị thương nặng[289]. Tại Trung Quốc, sự lưu thông rộng hơn của cơn bão đã khiến Trung tâm Dự báo Môi trường Biển Quốc gia đưa ra cảnh báo sóng thần màu cam, đặc biệt là mực nước dâng cao từ 50–80 cm (20–31 in) dọc theo Vịnh Bột Hải và 40–80 cm (16–31 in) dọc theo Vịnh Liêu Đông.[290]

Áp thấp nhiệt đới 23W (JMA TD 33)

sửa
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
 
Thời gian tồn tại3 tháng 9 – 5 tháng 9
Cường độ cực đại55 km/h (35 mph) (10 phút)  1000 hPa (mbar)

Vào ngày 2 tháng 9, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở phía đông nam đảo Guam và được NRL & JTWC đặt tên là 97W. Vào ngày 3 tháng 9, JMA báo cáo rằng một áp thấp nhiệt đới đã hình thành ở phía đông Philippines.[291] Ngày hôm sau lúc 13:30, JTWC đã đưa ra TCFA cho hệ thống này, đánh giá khả năng phát triển cao.[292] Sau đó, JTWC đã nâng cấp hệ thống này thành bão nhiệt đới và đặt tên là 23W.[293] Sáu tiếng sau, JTWC đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp nhiệt đới.[294] Lúc 01:00 ngày 6 tháng 9, JMA cho rằng ATNĐ tan biến do bị bão Krovanh hấu thụ.

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 34) - ATNĐ tháng 9 trên Biển Đông

sửa
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Vùng nhiễu động thời tiết
 
Thời gian tồn tại12 tháng 9 – Đang hoạt động
Cường độ cực đại<55 km/h (35 mph) (10 phút)  1006 hPa (mbar)

Vào ngày 10 tháng 9, một áp thấp hình thành tại Biển Đông và được NRL và JTWC đặc kí hiệu là 98W. Vào sáng 01:00 sáng ngày 12 tháng 9, JMA đã báo cáo rằng một áp thấp nhiệt đới hình thành biển Đông và tâm áp thấp nhiệt đới ở phía đông Việt Nam.[295] Vào lúc 05:00 ngày 12 tháng 9, NCHMF cũng nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đưa ra cảnh báo ATNĐ trên Biển Đông. Hai tiếng sau, PAGASA cũng nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới. Sau đó, JTWC cũng nâng cấp khả năng thành xoáy thuận nhiệt đới lên mức trung bình. Vài tiếng sau, JTWC bắt đưa ra TCFA và nâng cấp khả năng thành xoáy thuận nhiệt đới ở mức "cao".[296]

Do ảnh hưởng hoàn lưu của áp thấp nhiệt đới, ở đặc khu Cồn Cỏ (Quảng Trị) có gió mạnh cấp 6, giật cấp 8; khu vực từ Quảng Trị đến Tp. Đà Nẵng đêm qua và sáng ngày ngày 13 tháng 9 có mưa vừa đến mưa to.

Thông tin XTNĐ đang hoạt động

sửa

Cảnh báo và cập nhật XTNĐ trên Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông

sửa

Tính đến 04:30 ngày 12 tháng 09, vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương hiện tại có 1 XTNĐ đang hoạt động, gồm:

  • Áp thấp nhiệt đới JMA TD 34: Hoạt động ngay vùng biển Đông.
Thông tin chi tiết về các XTNĐ đang hoạt động:
sửa
ATNĐ JMA TD 34
ATNĐ tháng 9 trên Biển Đông
ATNĐ
Tình trạng bão hiện tại
Áp thấp nhiệt đới (NCHMF)
Tình trạng bão hiện tại
Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Tình trạng bão hiện tại
Áp thấp  (Thang bão Saffir-Simpson)
Bản đồ dự báo
Tính đến:08:00, ngày 13 tháng 09 năm 2026
Vị trí:17°12′B 108°18′Đ / 17,2°B 108,3°Đ / 17.2; 108.3 (ATNĐ JMA TD 34
ATNĐ tháng 9 trên Biển Đông
)

ATNĐ trên vùng biển từ Quảng Trị - thành phố Đà Nẵng
Tâm ATNĐ cách thành phố Huế khoảng 100km về phía Bắc Đông Bắc.
Gió:Cấp 6 (39 kilômét trên giờ (25 mph) - 49 kilômét trên giờ (30 mph)) (duy trì trong 2 phút)
< 30 hải lý trên giờ (55 km/h; 35 mph) (duy trì trong 10 phút)
25 hải lý trên giờ (45 km/h; 30 mph) (duy trì trong 1 phút)
giật cấp 8 (duy trì trong 2 phút)
Áp suất:1006 hPa (29,71 inHg)
Chuyển động:ATNĐ di chuyển về theo hướng Tây Bắc, với vận tốc khoảng 15 kilômét trên giờ (10 mph).
Xem thêm thông tin chi tiết.

Cập nhật thông tin trên trang dự báo:

Xoáy thuận nhiệt đới khác

sửa

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 04)

sửa
Đường đi của áp thấp nhiệt đới phía đông-đông bắc bão Nuri (JMA) (JMA TD 04).
Hình ảnh vệ tinh của áp thấp nhiệt đới phía đông-đông bắc bão Nuri (JMA TD 04)
  • Vào ngày 10 tháng 3, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã cập nhật một áp thấp nhiệt đới mới ở phía đông-đông bắc của Bão nhiệt đới Nuri.[297] Hệ thống tan rã vào ngày hôm sau mà không có thêm sự phát triển nào.[298]

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 07)

sửa
Đường đi của áp thấp nhiệt đới phía đông bão Hagupit (JMA) (JMA TD 07).
Hình ảnh vệ tinh của áp thấp nhiệt đới phía đông bão Hagupit (JMA TD 07)
  • Vào ngày 8 tháng 5, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) cập nhật một áp thấp nhiệt đới khác hình thành đến phía đông của Bão nhiệt dới Hagupit.[299] Hệ thống tan rã muộn vào ngày hôm sau.[300]

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 10)

sửa
Đường đi của áp thấp nhiệt đới gần Đồng bằng Châu Giang (JMA) (JMA TD 10).
Hình ảnh vệ tinh về Áp thấp nhiệt đới gần Đồng Bằng Châu Giang (JMA TD 10).

Áp thấp nhiệt đới

sửa
Hình ảnh vệ tinh về áp thấp nhiệt đới gần Đồng Bằng Châu Giang.
Đường đi của áp thấp nhiệt đới gần đồng bằng Châu Giang (PAGASA)
  • PAGASA báo cáo rằng một áp thấp nhiệt đới hình thành bên ngoài Khu vực Trách nhiệm của Philippines vào ngày 14 tháng 7 gần Đồng bằng Châu Giang.[303] Sáu tiếng sau, nó đã bị hạ cấp thành vùng áp thấp sau khi đi vào đất liền Trung Quốc.

Áp thấp cận nhiệt đới 91W

sửa
Hình ảnh vệ tinh về áp thấp cận nhiệt đới 91W.
Áp thấp cận nhiệt đới 91W lúc đạt cực đại
  • Vào ngày 15 tháng 7, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía đông quần đảo Ogasawara , JTWC đã đặt cho nó kí hiệu 91W. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 16 tháng 7, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp xác định đây là một áp thấp cận nhiệt đới.[304] Tuy nhiên JMA chỉ phân loại hệ thống này là một vùng áp thấp. Sức gió lúc cực đại của 91W là khoảng 55 km/h (34 mph), áp suât tâm lúc cực đại là 999 hPa (mBar).[305]Vào ngày 18 tháng 7, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp cho rằng cơn áp thấp nhiệt đới đã đã tan.

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 16)

sửa
Đường đi của áp thấp nhiệt đới JMA TD 16 (JMA & PAGASA)
Hình ảnh vệ tinh của áp thấp nhiệt đới JMA TD 16
  • Vào ngày 15 tháng 7, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía đông nam đảo Kosley, nó được JTWC đặt kí hiệu là 90W.[cần dẫn nguồn] Vào lúc 14 giờ ngày 16 tháng 7, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới và đưa ra cảnh báo gió mạnh.[306] Cùng ngày lúc 20:00 PHT (12:00 UTC), PAGASA cũng nâng cấp hệ thống này từ vùng áp thấp 07c lên thành áp thấp nhiệt đới.[307][308] Đến chiều ngày 17 tháng 7 thì hệ thống này đã suy yếu thành vùng áp thấp.[309]

Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ tháng 8 trên Biển Đông)

sửa
Dự báo ATNĐ tháng 8 trên biển Đông của NCHMF vào ngày 8 tháng 8 (Cảnh báo cuối cùng)
  • Vào ngày 7 tháng 8, một nhiễu động nhiệt đới được hình thành ở Vịnh Bắc Bộ. JTWC đã đặt kí hiệu cho nó là vùng nhiễu động 97W. Vào ngày 7 tháng 8, NCHMF (Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia) báo cáo rằng vùng áp thấp trên Vịnh Bắc Bộ đã mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới.[310] Đài thiên văn Hồng Kông cũng đưa ra thông báo tương tự vào ngày hôm sau.[cần dẫn nguồn] JTWC theo dõi khả năng hệ thống này trở thành một xoáy thuận nhiệt đới ở mức trung bình[cần dẫn nguồn] trước khi hạ nó xuống mức thấp sau khi hệ thống đổ bộ vào đảo Hải Nam.[cần dẫn nguồn] Vào ngày 8 tháng 8, trong khi HKO và NCHMF đều báo cáo rằng hệ thống đã suy yếu thành vùng áp thấp trong cùng ngày.

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 24)

sửa
Đường đi của áp thấp nhiệt đới phía tây nam Nangka (JMA) (JMA TD 24)
Hình ảnh vệ tinh của áp thấp nhiệt đới phía tây nam Nangka (JMA) (JMA TD 24)
  • Ngày 12 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía tây nam Okinotorishima và NRL & JTWC đã đặt cho nó mã hiệu 93W. Ngày 13 tháng 8, một vùng áp thấp nhiệt đới hình thành ở vùng biển phía đông bắc đảo Iwo Jima ở phía tây nam của Bão nhiệt đới Nangka. Vào lúc 7 giờ sáng (00:00 UTC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp nó thành áp thấp nhiệt đới. Sau đó, JTWC sau đó cũng làm theo và ban hành TCFA cho hệ thống này.[cần dẫn nguồn] Ngày hôm sau, JTWC hủy bỏ cảnh báo TCFA và hạ nó ở mức hình thành xoáy thuận nhiệt đới là "trung bình".[311]

Áp thấp cận nhiệt đới 96W

sửa
Đường đi của bão cận nhiệt đới 96W (Tính từ lúc tàn dư Nangka trở thành bão cận nhiệt đới) (JTWC)
Ảnh vệ tinh của bão cận nhiệt đới 96W

Ngày 19 tháng 8, một vùng nhiễu động nhiệt đới hình thành từ tàn dư của bão Nangka ở vùng biển phía đông Nhật Bản, NRL & JTWC đã đặt tên cho nó là vùng nhiễu động số 96W. Vào lúc 2 giờ chiều, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã phân loại nó là một cơn bão cận nhiệt đới.[312] Vào lúc 8 giờ sáng ngày 20 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp cận nhiệt đới và cho rằng nó đã tan ba ngày sau đó.[cần dẫn nguồn]

Bão cận nhiệt đới Lala

sửa
Đường đi của bão cận nhiệt đới Lala (Tính từ lúc Lala chuyển sang bão cận nhiệt đới và vượt qua kinh tuyến chung) (JTWC)
  • Sau đó, ngay trước khi vượt qua Đường đổi ngày quốc tế, Trung tâm Bão Trung tâm Thái Bình Dương (CPHC) đã xác định Lala là một cơn bão cận nhiệt đới và Trung tâm Dự báo Đại dương (OPC) đã tiếp quản công tác theo dõi và phát bản tin.[313] Vào lúc 20:00 ngày 28, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) xác định vùng áp thấp đã vượt qua đường đổi ngày quốc tế. Vào lúc 08:00 sáng ngày 29, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) xác định hệ thống đã tái phát triển thành một cơn bão cận nhiệt đới, đồng thời bắt đầu nối lại việc theo dõi và phát bản tin đối với hệ thống này.[314] Vào lúc 1 giờ sáng ngày 22 tháng 8, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã hạ cấp nó xuống thành áp thấp cận nhiệt đới. Vào lúc 7 giờ tối, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp đã ngừng theo dõi hệ thống này.
Đường đi của áp thấp nhiệt đới JMA TD 32 (JMA & PAGASA)

Áp thấp nhiệt đới (JMA TD 32)

sửa

Sáng ngày 30 tháng 8 một vùng thấp hình tại vùng biển Bắc Biển Đông. Vào lúc 13 giờ ngày 30 tháng 8, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp một hệ thống nằm ở Biển Đông thành áp thấp nhiệt đới gần phía Đông Nam Hồng Kông.[315] Đồng thời, PAGASA nhận định hệ thống này là một vùng áp thấp có khả năng phát triển thành xoáy thuận nhiệt đới ở mức trung bình. [316] Vào sáng ngày 31 tháng 8, JTWC đã theo dõi xoáy thuận này và đặt kí hiệu là 96W . Khả năng phát triển thành xoáy thuận nhiệt đới được đánh giá là ở mức trung bình.

Mùa bão và tên bão

sửa

Trong khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, cả JMA và PAGASA đều đặt tên cho các cơn bão nhiệt đới phát triển trong khu vực, điều này có thể dẫn đến việc một cơn bão nhiệt đới có hai tên. [317]Trung tâm Bão Tokyo- RSMC của JMA đặt tên quốc tế cho các cơn bão nhiệt đới thay mặt cho Ủy ban Bão của Tổ chức Khí tượng Thế giới nếu chúng được đánh giá là có tốc độ gió duy trì trong 10 phút là 65 km/h (40 mph) .[318] PAGASA đặt tên cho các cơn bão nhiệt đới di chuyển vào hoặc hình thành như một áp thấp nhiệt đới trong PAR của họ, nằm giữa 135°E và 115°E và giữa 5°N và 25°N, ngay cả khi cơn bão đã được đặt tên quốc tế.[317] Nếu danh sách tên cho khu vực đã hết, thì tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, mười tên đầu tiên trong số đó được công bố mỗi mùa. Tên chưa được sử dụng được đánh dấu bằng màu xám . Tên của các cơn bão nhiệt đới quan trọng sẽ bị loại bỏ bởi cả PAGASA và Ủy ban Bão vào mùa xuân năm 2027.[318]

Tên quốc tế (International name)

sửa

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực (RSMC) ở Tokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến cường độ bão nhiệt đới. Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó. Tất cả các tên trong danh sách đều giống nhau, ngoại trừ Nokaen, Penha, Peilou, Narra, GaenariBang-lang, thay thế Phanfone, Vongfong, Linfa, Molave, GoniVamco sau mùa bão năm 20192020. 6 Tên này được sử dụng lần đầu tiên trong mùa bão này. Sau đây là các tên gọi dự kiến sẽ đặt tên cho các cơn bão năm 2026:

  • Narra (2619)
  • Gaenari (2620)
  • Atsani (2621)
  • Etau (2622)
  • Bang-lang (2623)
  • Krovanh (2624)
  • Dujuan (chưa sử dụng)
  • Surigae (chưa sử dụng)
  • Choi-wan (chưa sử dụng)
  • Koguma (chưa sử dụng)
  • Champi (chưa sử dụng)
  • In-fa (chưa sử dụng)
  • Cempaka (chưa sử dụng)
  • Nepartak (chưa sử dụng)
  • Lupit (chưa sử dụng)
  • Mirinae (chưa sử dụng)
  • Omais (chưa sử dụng)
  • Lucbinh (chưa sử dụng)

Tên địa phương của Philippines

sửa
Khi một xoáy thuận nhiệt đới đi vào khu vực PAGASA theo dõi sẽ được đặt tên bằng danh sách tên bão riêng của họ

Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sử dụng danh sách tên bão riêng của họ để đặt cho một xoáy thuận nhiệt đới khi nó đi vào khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và những xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nếu danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, và danh sách tên bão sẽ được đưa ra trước khi mùa bão bắt đầu. Tên còn lập lại (chưa bị khai tử) từ danh sách này sẽ được sử dụng một lần nữa trong mùa bão năm 2021. Đây là danh sách tương tự được sử dụng trong mùa bão 2022, với ngoại lệ có Ada, Francisco, KiyapoPilandok, thay thế cho các tên Agaton, Florita, KardingPaeng. 4 Tên này được sử dụng lần đầu tiên trong mùa bão này

  • Pilandok (2624)
  • Queenie (chưa sử dụng)
  • Rosal (chưa sử dụng)
  • Samuel (chưa sử dụng)
  • Tomas (chưa sử dụng)
Auxiliary list (Danh sách dự phòng)
  • Agila (chưa sử dụng)
  • Bagwis (chưa sử dụng)
  • Chito (chưa sử dụng)
  • Diego (chưa sử dụng)
  • Elena (chưa sử dụng)
  • Felino (chưa sử dụng)
  • Gunding (chưa sử dụng)
  • Harriet (chưa sử dụng)
  • Indang (chưa sử dụng)
  • Jessa (chưa sử dụng)

Số hiệu cơn bão tại Việt Nam

sửa
Danh sách bão được cấp số hiệu tại Việt Nam năm 2026
Bão số 1 (2610)Bão số 2 (2612)Bão số 3 (2614)Bão số 4 (2619)
Bão số 5 (2618)Bão số 6 (chưa sử dụng)Bão số 7 (chưa sử dụng)Bão số 8 (chưa sử dụng)
Bão số 9 (chưa sử dụng)Bão số 10 (chưa sử dụng)Bão số 11 (chưa sử dụng)Bão số 12 (chưa sử dụng)
Bão số 13 (chưa sử dụng)Bão số 14 (chưa sử dụng)Bão số 15 (chưa sử dụng)Bão số 16 (chưa sử dụng)

Ở Việt Nam một cơn bão được đặt số hiệu khi nó đi vào vùng thuộc phạm vi theo dõi của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Việt Nam được xác định trên biển Đông phía Tây kinh tuyến 120 độ kinh Đông và vĩ tuyến 5–23 độ vĩ Bắc. Số hiệu của bão được đặt theo số thứ tự xuất hiện của nó trong năm, ví dụ: Bão số 1, bão số 2,...

Tổng quan mùa bão

sửa

Đây là bảng của tất cả các cơn bão đã hình thành trong mùa bão năm 2026 ở Tây Bắc Thái Bình Dương ở phía Tây của Đường Đổi Ngày Quốc tế trong năm 2019. Nó bao gồm tên, ngày tháng, sức gió, áp suất, khu vực đổ bộ, thiệt hại và số người chết được biểu thị bằng chữ in đậm. Cái chết trong ngoặc đơn thường là bổ sung hoặc gián tiếp (một ví dụ về cái chết gián tiếp là một tai nạn giao thông), nhưng vẫn sẽ liên quan đến cơn bão đó. Thiệt hại và tử vong bao gồm tổng số người bị tai nạn, sóng hoặc lũ lụt... và tất cả các con số thiệt hại là vào năm 2026 được tính bằng USD (những sức gió dưới đây được tính bằng sức gió 10 phút của JMA):

Bảng số liệu thống kê Xoáy thuận nhiệt đới Tây Bắc Thái Bình Dương 2026
Tên
bão
Thời gian
hoạt động
Cấp độ bão

lúc mạnh nhất

Sức gió tối
đa (10 phút)
dặm/giờ (km/giờ)
Áp suất
tối thiểu
(mbar)
Khu vực
tác động
Tổn thất
(triệu USD)
Số người
chết
Tham
khảo
Nokaen (Ada)13 tháng 1 - 22 tháng 1Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)996 hPa (29,41 inHg)Palau, Quần đảo Caroline, Philippines&0000000000024000.000000$24 nghìn2
Penha (Basyang)3 tháng 2 - 7 tháng 2Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)998 hPa (29,47 inHg)Quần đảo Caroline, Philippines&0000000025460000.000000$25,5 triệu12
Nuri10 tháng 3 - 13 tháng 3Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)998 hPa (29,47 inHg)Quần đảo Mariana, Quần đảo CarolineKhông cóKhông có
JMA TD 0410 tháng 3 - 11 tháng 3Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1004 hPa (29,65 inHg)Quần đảo MarianaKhông cóKhông có
Sinlaku8 tháng 4 - 20 tháng 4Siêu bão cuồng phong215 km/h (130 mph)905 hPa (26,72 inHg)Micronesia, Quần đảo Mariana, Quần đảo Ogasawara>&0000001554000000.000000$1,55 tỷ17
Hagupit (Caloy)5 tháng 5 - 15 tháng 5Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)998 hPa (29,47 inHg)Quần đảo CarolineTối thiểuKhông có
JMA TD 078 tháng 5 - 9 tháng 5Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1006 hPa (29,71 inHg)MicronesiaKhông cóKhông có
Jangmi (Domeng)26 tháng 5 – 3 tháng 6Bão nhiệt đới dữ dội110 km/h (70 mph)975 hPa (28,79 inHg)Quần đảo Caroline, Philippines, Nhật Bản>&0000000003095000.000000$3,1 triệuKhông có
Ester3 tháng 6 – 6 tháng 6Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1002 hPa (29,59 inHg)Việt Nam, Philippines, Đài Loan, Nhật BảnTối thiểuKhông có
JMA TD 109 tháng 6 - 10 tháng 6Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1002 hPa (29,59 inHg)Hoa Nam, Đài Loan, Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Nansei)Tối thiểuKhông có
Mekkhala (Francisco)18 tháng 6 - 27 tháng 6Bão cuồng phong rất mạnh185 km/h (115 mph)925 hPa (27,32 inHg)Quần đảo Marshall, Quần đảo Caroline, Quần đảo Mariana, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Quần đảo Kuril>&0000000020150500.000000$20,2 triệu10
Higos (Gardo)22 tháng 6 – 27 tháng 6Bão nhiệt đới85 km/h (50 mph)998 hPa (29,47 inHg)Quần đảo Mariana, Nhật Bản, Quần đảo KurilKhông rõKhông có
Bavi (Ba Vì) (Inday)30 tháng 6 - 15 tháng 7Siêu bão cuồng phong205 km/h (125 mph)910 hPa (26,87 inHg)Quần đảo Marshall, Quần đảo Caroline, Quần đảo Mariana, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Nansei, Hokkaidō), Hoa Đông, Hoa Bắc, Triều Tiên, Viễn Đông Nga>&0000000140800000.000000$141 triệu23
Maysak (Henry) (Bão số 1)1 tháng 7 - 7 tháng 7Bão nhiệt đới dữ dội95 km/h (60 mph)990 hPa (29,23 inHg)Philippines, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Hoa Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Hoa Trung>&0000003346470000.000000$3,35 tỷ171
Haishen (Josie)12 tháng 7 - 14 tháng 7Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)1002 hPa (29,59 inHg)Quần đảo Marshall, Quần đảo CarolineTối thiểuKhông có
JMA TD 1616 tháng 7 - 17 tháng 7Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1006 hPa (29,71 inHg)MicronesiaKhông cóKhông có
Noul (Kiyapo) (Bão số 2)22 tháng 7 - 27 tháng 7Bão cuồng phong140 km/h (85 mph)960 hPa (28,35 inHg)Micronesia, Philippines, Đài Loan, Hoa Nam>&0000000639100000.000000$639 triệu14+
Dolphin26 tháng 7 - 13 tháng 8Siêu bão cuồng phong205 km/h (125 mph)910 hPa (26,87 inHg)Quần đảo Marshall, Nhật Bản (cụ thể Minami Tori-shima, Quần đảo Ogasawara, Quần đảo Daitō, Quần đảo Nansei), Đài Loan, Hoa Đông, Philippines, Hoa Trung>&0000000264520000.000000$265 triệu(6)
Kujira (Luis–Maymay) (Bão số 3)31 tháng 7 - 6 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)994 hPa (29,35 inHg)Micronesia, Philippines>&0000000063940000.000000$63,9 triệu7
Chan-hom5 tháng 8 - 15 tháng 8Bão nhiệt đới dữ dội95 km/h (60 mph)980 hPa (28,94 inHg)Đảo Wake, Nhật Bản (cụ thể Honshu), Triều Tiên, Viễn Đông NgaKhông rõKhông có
Peilou8 tháng 8 - 13 tháng 8Bão nhiệt đới85 km/h (50 mph)992 hPa (29,29 inHg)Quần đảo Mariana, Nhật Bản (cụ thể Minami Tori-shima), Bán đảo AlaskaTối thiểuKhông có[h]
15W (JMA TD 22)09 tháng 8 - 11 tháng 8Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)996 hPa (29,41 inHg)Không cóKhông cóKhông có
Nangka11 tháng 8 - 16 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)990 hPa (29,23 inHg)Nhật Bản (cụ thể Minami Tori-shima), Quần đảo MarianaKhông cóKhông có
JMA TD 2413 tháng 8 - 16 tháng 8Áp thấp nhiệt đớiKhông xác định1000 hPa (29,53 inHg)Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Ogasawara)Không cóKhông có
Saudel (Obet) (Bão số 5)15 tháng 8 - 4 tháng 9Bão cuồng phong rất mạnh165 km/h (105 mph)940 hPa (27,76 inHg)Quần đảo Marshall, Micronesia, Quần đảo Mariana, Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Ogasawara, Quần đảo Daitō, Quần đảo Nansei), Đài Loan, Hoa Đông, Hoa Nam>&0000000103700000.000000$104 triệu20+
Narra (Bão số 4)17 tháng 8 - 27 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)990 hPa (29,23 inHg)Đài Loan, Philippines, Hoa Nam, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Lào, Thái Lan, CampuchiaKhông rõ3 (5)
Gaenari (Neneng)18 tháng 8 - 25 tháng 8Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)996 hPa (29,41 inHg)Đài Loan, Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Nansei), Hoa Đông>&0000000016460000.000000$16,5 triệu2+
Atsani22 tháng 8 - 26 tháng 8Bão nhiệt đới65 km/h (40 mph)998 hPa (29,47 inHg)MicronesiaKhông cóKhông có
Bang-lang25 tháng 8 - 31 tháng 8Bão cuồng phong120 km/h (75 mph)980 hPa (28,94 inHg)Đảo Wake, Quần đảo AleutKhông cóKhông có
Etau26 tháng 8 - 31 tháng 8Bão nhiệt đới75 km/h (45 mph)994 hPa (29,35 inHg)Đảo Wake, Quần đảo AleutKhông cóKhông có
Krovanh (Pilandok)29 tháng 8 - Đang hoạt độngBão nhiệt đới85 km/h (50 mph)985 hPa (29,09 inHg)Nhật Bản (cụ thể Quần đảo Nansei, Kyūshū, Shikoku, Honshu), Hàn Quốc, Vùng ven biển của Hoa Đông, Vùng ven biển của Đông Bắc Trung QuốcKhông rõ(1)
JMA TD 3230 tháng 8 - 31 tháng 8Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)998 hPa (29,47 inHg)Hoa Nam, Đài LoanKhông cóKhông có
23W (JMA TD 33)03 tháng 9 - 05 tháng 9Áp thấp nhiệt đới55 km/h (35 mph)1000 hPa (29,53 inHg)Nhật Bản (cụ thể Kyūshū, Quần đảo Nansei)Không cóKhông có
JMA TD 3412 tháng 9 - Đang hoạt độngÁp thấp nhiệt đớiKhông xác định1006 hPa (29,71 inHg)Việt Nam, Hoa Nam, Lào, Campuchia, Thái LanKhông cóKhông có
Tổng tỷ số mùa bão
34 xoáy thuận (Sinlaku mạnh nhất)13 Tháng 1 – Đang hoạt động215 km/h (130 mph)905 hPa (26,72 inHg)>&0000006179469500.000000$6,18 tỷ281+ (12)
Chú ý – Quy ước các vùng để xác định vùng ảnh hưởng trực tiếp vùng đổ bộ của bão trên đất liền.
sửa
  • Việt Nam: Bắc Bộ (Bao gồm cả Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ); Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Phía Bắc Quảng Trị), Trung Trung Bộ (Phía Nam Quảng Trị - Phía Đông Quảng Ngãi), Nam Trung Bộ (Phía Đông Gia Lai - Phía Đông Lâm Đông), Cao Nguyên Trung Bộ/Tây Nguyên (Phía Tây Quảng Ngãi - Phía Tây Lâm Đồng), Nam Bộ (Bao gồm cả Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ). Các vùng này được xác định riêng biệt, không gọi chung là Việt Nam.
  • Trung Quốc: Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông, Ma Cao); Đông Trung Quốc (Phúc Kiến, Chiết Giang, Thượng Hải, Giang Tô, Sơn Đông, Hà Bắc, Bắc Kinh, Thiên Tân và các tỉnh phụ cận); Đông Bắc Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Côn Minh, Nội Mông). Các tỉnh còn lại (chủ yếu khu Tây Tạng, Tây Bắc Trung Quốc) ít hoặc hầu như không chịu ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới nên không nói đến. Nếu có 2 vùng trở lên thì gọi chung là Trung Quốc.
Chú ý – Quy ước các vùng để xác định vùng ảnh hưởng trực tiếp vùng đổ bộ của bão trên các khu vực biển Đông (So với đổ bộ đất liền)
sửa
  • Việt Nam: Bắc Bộ (Bắc Vịnh Bắc Bộ); Bắc Trung Bộ (Nam Vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển Thanh Hóa - Bắc Quảng Trị); Trung Trung Bộ (Vùng biển Nam Quảng Trị - Quảng Ngãi); Nam Trung Bộ (Vùng biển Gia Lai - Khánh Hòa); Nam Bộ (Vùng biển Lâm Đồng - Cà Mau, Cà Mau - An Giang bao gồm cả đặc khu Phú Quốc và Vịnh Thái Lan); Nếu có xoáy thuận nhiệt đới ỏ các khu vực Bắc, Giữa và Nam Biển Đông trở lên thì gọi chung là Việt Nam.

Lưu ý: Những cơn bão Không nơi nào ảnh hưởng viết tắt là chữ KAH. Các quốc gia có phân vùng địa lí - kinh tế vẫn phải viết theo phân vùng đó, tránh ghi tên quốc gia đó (VD như vùng Viễn Đông Nga, ..).

Ghi chú

sửa
  1. Cơ quan Khí tượng Nhật Bản là Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực chính thức cho khu vực Tây Thái Bình Dương.
  2. Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) là lực lượng hợp đồng tác chiến giữa Hải quân và Không quân Hoa Kỳ, có nhiệm vụ ban hành các cảnh báo xoáy thuận nhiệt đới tại khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương cùng các vùng biển lân cận.
  3. Ngày 14 tháng 7, JTWC đã chỉnh sửa lại trên Best Track cho AT 97W (Haishen) lên thành ATNĐ nhưng không đánh kí hiệu. (Lưu ý trong bài viết này cũng Haishen sẽ tính là ATNĐ). Thực tế JTWC chỉ đặt kí hiệu có 23 XTNĐ
  4. Theo PAGASA, Luis và Maymay là hai ATNĐ riêng biệt (Luis hình thành từ áp thấp LPA 07f ở Biển Philipines, Maymay hình thành từ áp thấp LPA 08a ở Biển Đông với hai tâm áp thấp đều khác nhau); còn theo JMA và JTWC, cả hai chỉ là một hệ thống liên tục (Maymay là chính tàn dư tái phát triển của Luis).
  5. Lấy theo sức gió được Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Việt Nam công bố khi đi vào biển Đông
  6. JTWC công nhận tên gọi này vì nó là tái tạo thành Peilou, do đó nó cùng tên gọi chung với Peilou.
  7. JTWC công nhận tên gọi này vì nó là sự tái sinh của Kujira, do đó nó cùng tên gọi chung với Kujira.
  8. JTWC công nhận tên gọi này vì nó là sự tái sinh của Kujira, do đó nó cùng tên gọi chung với Kujira.

Xem thêm

sửa

Tham khảo

sửa
  1. 1 2 Lea, Adam (ngày 11 tháng 5 năm 2026). Extended Range Forecast for Northwest Pacific Typhoon Activity in 2026 (PDF) (Báo cáo). Tropical Storm Risk. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2026.
  2. Lea, Adam (ngày 9 tháng 7 năm 2026). July Forecast Update for NW Pacific Typhoon Activity in 2026 (PDF) (Báo cáo). Tropical Storm Risk. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
  3. Lea, Adam (ngày 10 tháng 8 năm 2026). August Forecast Update for NW Pacific Typhoon Activity in 2026 (PDF) (Báo cáo). Tropical Storm Risk. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2026.
  4. 1 2 Seasonal Climate Outlook January – June 2026 (PDF) (Báo cáo). PAGASA. ngày 15 tháng 12 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2025.
  5. kttv.gov.vn (Ngày 15 tháng 7, 2026). "Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia". Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  6. kttv.gov.vn (Ngày 15 tháng 7, 2026). "Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia". Truy cập Ngày 15 tháng 7, 2026.
  7. "今年の台風発生数は28個前後 日本に接近する台風も平年より多い予想". ウェザーニュース (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  8. Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 22/04/2021 của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký.
  9. "Tin bão trên đất liền (Cơn bão số 01) (23 giờ ngày 4 tháng 7)" (PDF). Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 4 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026.
  10. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 08Z 13 January 2026". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 13 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2026.
  11. "Warning and Summary 131800". (Report). Tokyo, Japan: Japan Meteorological Agency. ngày 13 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2026.
  12. Rojas, Ariel (ngày 14 tháng 1 năm 2026). "LPA develops into 2026's first storm". ABS-CBN News. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2026.
  13. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 91W)". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 14 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2026.
  14. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 01W (One) Warning No. 1". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 14 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2026.
  15. "Prognostic Reasoning No. 7 for TS 2601 Nokaen (2601)". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 15 tháng 1 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
  16. "Reasoning No. 9 for TS 2601 Nokaen (2601)". ngày 15 tháng 1 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  17. "Prognostic Reasoning No. 18 for TS 2601 Nokaen (2601)". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 18 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2026.
  18. "Ada weakens into a tropical depression". ABS-CBN. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  19. "Ada' weakens into an LPA; disturbance east of Mindanao unlikely to enter PAR". ABS-CBN. ngày 21 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2026.
  20. "2 dead in Ada-induced landslide in Sorsogon". Manila Bulletin. ngày 17 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.
  21. "1 killed in maritime incident in Surigao due to Ada — PCG". GMA News. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  22. "2 dead as Ada brings heavy rains, winds over Bicol region". GMA News. ngày 17 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2026.
  23. "DSWD DROMIC Report #14 on the Effects of Tropical Storm "Ada" as of 26 January 2026, 6PM" (PDF). ngày 26 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
  24. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 10Z 2 February 2026". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 2 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
  25. "Warning and Summary 131800". (Report). Tokyo, Japan: Japan Meteorological Agency. ngày 3 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
  26. "Tropical depression Basyang enters Philippine area". ABS-CBN. ngày 3 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
  27. Clores, Keith (ngày 3 tháng 2 năm 2026). "Tropical depression Basyang enters PAR, may become tropical storm". Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  28. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 94W)". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  29. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 02W (Two) Warning No. 1". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 4 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  30. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 02W (Two) Warning No. 2". (Report). United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 4 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  31. "Prognostic Reasoning No. 7 for TS 2602 Penha (2602)". (Report). Japan Meteorological Agency. ngày 4 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
  32. "36 injured due to Basyang; death toll remains at 12 — NDRRMC". GMA News. ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  33. "4 dead due to 'Basyang'". SunStar Philippines. ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  34. "Basyang leaves 5 people dead in Iligan". GMA News. ngày 8 tháng 2 năm 2026.
  35. "Basyang death toll now 12 — OCD". GMA News. ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  36. "Tropical storm leaves 8 dead, thousands displaced in Philippines after flooding and a landslide". AP News. ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  37. "Iligan City placed under state of calamity due to Basyang". GMA Integrated News. ngày 6 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  38. Lopez, Alexander (ngày 10 tháng 2 năm 2026). "Surigao Sur under a state of calamity due to Basyang". Philippine News Agency. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
  39. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 1230Z 9 tháng 3, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 9 tháng 3, 2026. Truy cập 10 tháng 3, 2026.
  40. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 95W)". Joint Typhoon Warning Center. 10 tháng 3, 2026. Truy cập 10 tháng 3, 2026.
  41. Reasoning No. 3 for TS Nuri (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. 11 tháng 3, 2026. Truy cập 11 tháng 3, 2026.
  42. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 03W (Nuri) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 11 tháng 3, 2026. Truy cập 11 tháng 3, 2026.
  43. "'Amihan' brings rains, cooler temperatures to Northern Luzon; 'Nuri' weakens into tropical depression". Manila Bulletin. ngày 12 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2026.
  44. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 02Z 8 tháng 4, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 8 tháng 4, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2026. Truy cập 8 tháng 4, 2026.
  45. "Reasoning No. 6 for TD located at 5N, 107E". Japan Meteorological Agency. ngày 4 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2026.
  46. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 90W)". United States Joint Typhoon Center. ngày 9 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  47. "Prognostic Reasoning for Tropical Depression 04W (Four) Warning No. 1". United States Joint Typhoon Warning Center. ngày 9 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  48. "Prognostic Reasoning No. 7 for TS 2604 Sinlaku (2604)". Cơ quan khí tượng Nhật Bản. ngày 10 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  49. Prognostic Reasoning No. 11 for TY 2604 Sinlaku (2604) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 11 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
  50. Prognostic Reasoning No. 9 for Typhoon 04W (Sinlaku) (Báo cáo). Joint Typhoon Warning Center. ngày 11 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
  51. Tropical Cyclone Advisory No. 17 for TY Sinlaku (2604) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Tokyo, Japan: Japan Meteorological Agency. ngày 12 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2026.
  52. Super Typhoon 04W (Sinlaku) No. 16 (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Joint Typhoon Warning Center. ngày 13 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2026.
  53. Prognostic Reasoning No. 44 (Final) for Super Typhoon 04W (Sinlaku) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Joint Typhoon Warning Center. ngày 19 tháng 4 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  54. FSM: Cyclone - 04-2026 - Typhoon Sinlaku (PDF) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế. ngày 15 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
  55. Santo Tomas, Jojo (ngày 19 tháng 4 năm 2026). "Coast Guard spots overturned boat as search for 6 continues". The Guam Daily Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  56. "Post Tropical Cyclone Report - Super Typhoon Sinlaku (04W)" (PDF). National Weather Services - Tiyan, GU. ngày 22 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  57. "Wind and Pressure (STY Sinlaku)" (CSV). National Weather Services - Tiyan, GU. Lưu trữ (CSV) bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2026.
  58. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 4 tháng 5, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 4 tháng 5, 2026. Truy cập 4 tháng 5, 2026.
  59. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 93W)". Joint Typhoon Warning Center. 5 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2026. Truy cập 5 tháng 5, 2026.
  60. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 05W (Five) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 5 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2026. Truy cập 6 tháng 5, 2026.
  61. Prognostic Reasoning No. 5 for TS 2605 Hagupit (2605) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 6 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2026.
  62. Prognostic Reasoning No. 7 for TS 2605 Hagupit (2605) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 6 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
  63. "Storm Hagupit enters Philippine area, locally named 'Caloy'". ABS-CBN. ngày 9 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2026.
  64. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 05W (Hagupit) Warning No. 18". Joint Typhoon Warning Center. 10 tháng 5, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2026. Truy cập 10 tháng 5, 2026.
  65. Prognostic Reasoning No. 20 (Final) for Tropical Depression 05A (Hagupit) (Báo cáo). Joint Typhoon Warning Center. ngày 11 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2026.
  66. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 01Z 25 tháng 5, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 25 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2026. Truy cập 25 tháng 5, 2026.
  67. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 00Z 26 tháng 5, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 26 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2026. Truy cập 26 tháng 5, 2026.
  68. Prognostic Reasoning No. 1 for TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 26 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  69. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 99W)". Joint Typhoon Warning Center. 26 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2026. Truy cập 27 tháng 5, 2026.
  70. Prognostic Reasoning No. 5 for TS 2606 Jangmi (2606) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 27 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2026.
  71. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 06W (Jangmi) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2026. Truy cập 27 tháng 5, 2026.
  72. "Tropical Storm Domeng enters Philippine Area of Responsibility". GMA News. ngày 29 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2026.
  73. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 06W (Jangmi) Warning No. 13". Joint Typhoon Warning Center. 30 tháng 5, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập 30 tháng 5, 2026.
  74. Prognostic Reasoning No. 18 for STS 2606 Jangmi (2606) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 30 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  75. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 06W (Jangmi) Warning No. 21". Joint Typhoon Warning Center. 1 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2026. Truy cập 4 tháng 6, 2026.
  76. "Typhoon Jangmi churns along Japan's Pacific coast, leaves dozens hurt". South China Morning Post. ngày 3 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  77. Prognostic Reasoning No. 35 for Extratropical Cyclone (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 3 tháng 6 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  78. "Typhoon Jangmi displaces over 85,000 people; all in BARMM, says NDRRMC". BusinessWorld. ngày 1 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2026.
  79. Kothari, Rishav (ngày 3 tháng 6 năm 2026). "Severe Tropical Storm Jangmi leaves 23 injured, 60 000 without power after landfall in Wakayama, Japan". The Watcher. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  80. Speed, Jessica (ngày 3 tháng 6 năm 2026). "Tropical Storm Jangmi slams Japan, triggering flood alerts and disrupting transportation". The Japan Times. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  81. "WWJP27 RJTD 031200". Japan Meteorological Agency. ngày 3 tháng 6 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026. Max Winds 30 Knots Near Center.
  82. "Ester forms northwest of Batanes; enhanced Habagat rains to persist in Luzon". ABS-CBN. ngày 5 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2026.
  83. "Joint Typhoon Warning Center ABPW10". www.metoc.navy.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2026.
  84. "API KnackWx ATCF Best Track". api.knackwx.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2026.
  85. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 15 tháng 6, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 15 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2026. Truy cập 15 tháng 6, 2026.
  86. https://www.metoc.navy.mil/jtwc/products/wp9226web.txt
  87. Prognostic Reasoning No.  1 for TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2026.
  88. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 07W (Seven) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 18 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2026. Truy cập 19 tháng 6, 2026.
  89. Prognostic Reasoning No. 5 for TS 2607 Mekkhala (2607) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 6 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2026.
  90. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 07W (Mekkhala) Warning No. 5". Joint Typhoon Warning Center. 19 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2026. Truy cập 19 tháng 6, 2026.
  91. "Severe tropical storm Francisco enters PAR". ABS-CBN. ngày 20 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  92. Prognostic Reasoning No. 9 for TS 2607 Mekkhala (2607) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 21 tháng 6 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2026.
  93. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 07W (Mekkhala) Warning No. 11". Joint Typhoon Warning Center. 21 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2026. Truy cập 21 tháng 6, 2026.
  94. "Typhoon Mekkhala (2026) Real-Time Tracking Log". Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  95. TROPICAL CYCLONE BULLETIN NR. 4 Typhoon FRANCISCO (MEKKHALA) (PDF) (Báo cáo). PAGASA. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  96. "RSMC Tokyo Best Track Data Archive". Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  97. "Digital Typhoon: Typhoon 202607 (Mekkhala) - Satellite Archives". National Institute of Informatics. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  98. TROPICAL CYCLONE BULLETIN NR. 9 Super Typhoon FRANCISCO (MEKKHALA) (PDF) (Báo cáo). PAGASA. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  99. TROPICAL CYCLONE BULLETIN NR. 11 Typhoon FRANCISCO (MEKKHALA) (PDF) (Báo cáo). PAGASA. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  100. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 07W (Mekkhala) Warning No. 19". Joint Typhoon Warning Center. 23 tháng 6, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2026. Truy cập 23 tháng 6, 2026.
  101. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 07W (Mekkhala) Warning No. 27". Joint Typhoon Warning Center. 25 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2026. Truy cập 25 tháng 6, 2026.
  102. Reasoning No. 26 for STS Mekkhala (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. 25 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2026. Truy cập 25 tháng 6, 2026.
  103. De Vera-Ruiz, Ellalyn (ngày 25 tháng 6 năm 2026). "'Francisco' out; 'Gardo' in". Manila Bulletin. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026.
  104. "【台風7号】沖縄本島地方全域に暴風警報 26日未明から朝にかけ最接近へ(午後9時14分)" [[Typhoon No. 7] A storm warning has been issued for the entire Okinawa main island region. The typhoon is expected to make its closest approach from early morning to morning on the 26th (9:14 PM).] (bằng tiếng japanese). Okinawa Times. ngày 25 tháng 6 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  105. "Floods kill two in Taiwan as twin storms approach Japan". France24. ngày 26 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026.
  106. "Floods kill two in Taiwan as twin storms approach Japan". France24 . Ngày 26 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026 . .
  107. "Japan assesses damage as Mekkhala moves offshore" NHK. Ngày 27 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026 .
  108. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 07Z 21 tháng 6, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 21 tháng 6, 2026. Truy cập 21 tháng 6, 2026.
  109. Warning and Summary 220600 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. 22 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2026. Truy cập 22 tháng 6, 2026.
  110. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 94W)". Joint Typhoon Warning Center. 22 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2026. Truy cập 22 tháng 6, 2026.
  111. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 08W (Eight) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 22 tháng 6, 2026. Truy cập 23 tháng 6, 2026.
  112. "Tropical Cyclone Advisory for TS 2608 Higos (2608)". Japan Meteorological Agency. ngày 23 tháng 6 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2026.
  113. "Tropical Storm 'Gardo' enters PAR". Manila Standard. ngày 25 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  114. Daguno-Bersamina, Kristine (26 tháng 6 năm 2026). "'Gardo' exits PAR but habagat persists". Philippines: The Philippine Star . Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026 .
  115. "Tropical Cyclone Bulletin #4-FINAL for Severe Tropical Storm 'Gardo' (Higos)" (PDF) PAGASA.Ngày 26 tháng 6 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc (PDF) vào ngày 26 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2026.
  116. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 01Z 25 June 2026". Joint Typhoon Warning Center. 25 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2026. Truy cập 25 tháng 6, 2026.
  117. "WTPN21 PGTW 301300 TROPICAL CYCLONE FORMATION ALERT (INVEST 95W)". Joint Typhoon Warning Center. ngày 30 tháng 6 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2026.
  118. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 09W (Nine) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 1 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2026. Truy cập 1 tháng 7, 2026.
  119. Prognostic Reasoning No. 5 for TS 2609 Bavi (2607) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 2 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.
  120. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 09W (Bavi) Warning No. 8". Joint Typhoon Warning Center. 2 tháng 7, 2026. Truy cập 3 tháng 7, 2026.
  121. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 09W (Bavi) Warning No. 9". Joint Typhoon Warning Center. 2 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2026. Truy cập 3 tháng 7, 2026.
  122. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 09W (Bavi) Warning No. 11". Joint Typhoon Warning Center. 3 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2026. Truy cập 3 tháng 7, 2026.
  123. 1 2 "KnackWX 09W BAVI best track data". RyanKnacksWX. ngày 1 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2026.
  124. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 09W (Bavi) Warning No. 9". Joint Typhoon Warning Center. 2 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2026. Truy cập 3 tháng 7, 2026.
  125. Super Typhoon 10W (Bavi) Warning No. 12 (Báo cáo). Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
  126. Super Typhoon 10W (Bavi) Warning No. 12 (Báo cáo). Joint Typhoon Warning Center. ngày 3 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
  127. Prognostic Reasoning for Typhoon 09W (Bavi) Warning No. 16Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ . Ngày 4 tháng 7 năm 2026. Lưu trữtừ bản gốc vào ngày 5 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2026.
  128. Arceo, Acor (ngày 7 tháng 7 năm 2026). "Super Typhoon Bavi gets local name Inday even before entry into PAR". RAPPLER (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
  129. "Bão Ba Vì đổ bộ 2 lần, chỉ cách nhau 20 phút". Báo Lao Động. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
  130. "気象庁|統合地図ページ". www.jma.go.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
  131. France-Presse, Agence (ngày 12 tháng 7 năm 2026). "Bavi makes landfall in China after forcing nearly 2 million to flee". Philippines: The Inquirer. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
  132. "Typhoon makes landfall in China after forcing nearly two million to flee". Singapore: Channel News Asia. ngày 12 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
  133. "令和8年台風第9号による被害及び 消防機関等の対応状況 (第3報)" (PDF). Fire and Disaster Management Agency (bằng tiếng Nhật). ngày 11 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  134. "Typhoon Bavi batters eastern China, threatens days of heavy rain". CNA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
  135. "【#浙江三个站点监测到16级阵风# 】#台风巴威中心贯穿浙江#". Weibo. Đài Phát thanh Nhân dân Chiết Giang. ngày 12 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
  136. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 06Z 29 June 2026". Joint Typhoon Warning Center. 29 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2026. Truy cập 29 tháng 6, 2026.
  137. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 96W)". Joint Typhoon Warning Center. 30 tháng 6, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2026. Truy cập 1 tháng 7, 2026.
  138. Prognostic Reasoning for Tropical Depression 10W (Ten) Warning No. 1 Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ. Ngày 1 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 2 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2026 .
  139. ""美莎克"已移入北部湾北部海面 4日海南省仍有较强风雨天气". Đài Khí tượng Hải Nam. ngày 4 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026.
  140. Lê Tân (ngày 4 tháng 7 năm 2026). "Bão Maysak đổ bộ Móng Cái". VnExpress. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026.
  141. "1號風球料日間維持 明晨3號風球機會中等" .TDM (bằng tiếng Trung Quốc) . Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2026 .
  142. "天文台:一號戒備信號今日維持 評估是否需要明日改發三號信號 - RTHK". news.rthk.hk (bằng tiếng Trung Quốc) . Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2026.
  143. "3號風球生效 料明日清晨前維持".TDM (bằng tiếng Trung Quốc). Ngày 3 tháng 7 năm 2026 . Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2026 .
  144. "天文台取消所有熱帶氣旋警告信號 改發強烈季候風信號". RTHK . Ngày 4 tháng 7 năm 2026 . Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026 .
  145. "氣象局改發1號風球 料上午維持". TDM . Ngày 4 tháng 7 năm 2026 . Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026 .
  146. "所有熱帶氣旋警告12:30取消 視風力考慮發黑球". TDM . Ngày 4 tháng 7 năm 2026 . Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026 .
  147. "所有熱帶氣旋警告12:30取消 視風力考慮發黑球". TDM . Ngày 4 tháng 7 năm 2026 . Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026 .
  148. 1 2 "强风雨范围向北扩大 全区大部有暴雨到大暴雨". Quảng Tây thời tiết. ngày 5 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2026.
  149. "受台风"美莎克"影响 广西多个区域降雨量破当地纪录". Nhân Dân nhật báo. ngày 7 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2024.
  150. "广西南宁多个水库出现险情 抢险救援加紧进行". Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương. ngày 6 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  151. "台风"美莎克"致广西南宁贵港159人遇难10人失联 两地全面转入灾后恢复重建阶段". Tân Hoa Xã. ngày 21 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  152. "台风"美莎克"已造成260多万人受灾,直接经济损失221.8亿元". Trung Quốc nhật báo/China Daily. ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  153. "湖南隆回一桥梁发生垮塌 2名行人落水失联". Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương. ngày 7 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  154. 1 2 "台风"美莎克"共催生10个龙卷风". Báo Tân Kinh. ngày 15 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  155. "两部门发布2026年7月全国自然灾害情况". Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc. ngày 14 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2026.
  156. Nguyễn Hải (ngày 4 tháng 7 năm 2026). "Bão số 1 gây mưa lớn diện rộng, đặc khu Bạch Long Vĩ có gió mạnh cấp 9". Dân trí. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2026.
  157. Hà Thu (ngày 5 tháng 7 năm 2026). "Bão số 1 gây gió mạnh cấp 9, giật cấp 11, ở đặc khu Bạch Long Vĩ". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
  158. VTV (ngày 6 tháng 7 năm 2026). "Quảng Ninh thiệt hại khoảng 20 tỷ đồng do bão số 1". CafeF. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.
  159. https://www.metoc.navy.mil/jtwc/products/wp9726web.txt
  160. "Tropical Cyclone Advisory #1 for Tropical Depression" (PDF). PAGASA. ngày 13 tháng 7 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
  161. "Tropical Storm Josie now inside PAR for brief stay". Rappler. ngày 14 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2026.
  162. Prognostic Reasoning No. 5 for TS 2611 Haishen (2611) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 14 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2026.
  163. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 97W)". Joint Typhoon Warning Center. 14 tháng 7, 2026. Truy cập 14 tháng 7, 2026.
  164. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 97W)". Joint Typhoon Warning Center. 14 tháng 7, 2026. Truy cập 14 tháng 7, 2026.
  165. Cảnh báo thời tiết nhiệt đới quan trọng cho khu vực Tây và Nam Thái Bình Dương, 01Z ngày 21 tháng 7 năm 2026 (Báo cáo). Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ. Ngày 21 tháng 7 năm 2026 .Lưu trữ từ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2026
  166. DOST-PAGASA (ngày 22 tháng 7 năm 2026). "As of 8:00 PM today, 22 July 2026, the Low Pressure Area (LPA 07d) being monitored within the Philippine Area of Responsibility (PAR) has developed into Tropical Depression KIYAPO. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2026.
  167. Cảnh báo hình thành bão nhiệt đới (Invest 92W) (Báo cáo). Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ. Ngày 22 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026 .
  168. Lý luận dự báo cho áp thấp nhiệt đới 10W (Một) Cảnh báo số 1 (Báo cáo). Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ . Ngày 23 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
  169. Prognostic Reasoning for Tropical Storm 11W (Noul) Warning No. 4. Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ. Ngày 24 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
  170. De Vera-Ruiz, Ellalyn (24 tháng 7 năm 2026). "TS 'Kiyapo' makes landfall in Cagayan — PAGASA" Manila: Bản tin Manila . Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026 .
  171. "Tropical Cyclone Bulletin #12 for Tropical Storm 'Kiyapo' (Noul)" (PDF). PAGASA. . Ngày 24 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc (PDF) vào ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026 .
  172. Prognostic Reasoning No. 7 for STS 2612 Noul (2612) (Báo cáo). Cơ quan Khí tượng Nhật Bản Ngày 24 tháng 7 năm 2026.Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026 .
  173. "Tropical Cyclone Bulletin #13 for Severe Tropical Storm 'Kiyapo' (Noul)" (PDF). PAGASA. Ngày 24 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc (PDF) vào ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026 .
  174. "【过去24小时风雨实况】来看看,过去一天25日08时到26日08时广东的降雨和风力情况". Quảng Đông thời tiết. ngày 26 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2026 qua Weibo.
  175. "台风"红霞"已登陆,26-27日广东仍有强降水". Quảng Đông thời tiết. ngày 26 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026 qua Weixin.
  176. Tropical Weather Outlook for 200 AM HST Sun Jul 26 2026. NHC Graphical Outlook Archive (Báo cáo). Honolulu, Hawaii: Trung tâm Bão Trung Thái Bình Dương. ngày 26 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
  177. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 12W (12W) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2026. Truy cập 27 tháng 7, 2026.
  178. Tropical Weather Advisory for Typhoon T2613 (Dolphin) at 27 July, 0950 UTC (Báo cáo). Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 27 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2026.
  179. "Tropical Storm 12W (Dolphin) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 7, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2026. Truy cập 27 tháng 7, 2026.
  180. Prognostic Reasoning for Category 5-Equivalent Tropical Cyclone 12W (Dolphin) Warning No. 13 (Báo cáo) Trung tâm Cảnh bão Bão Liên hợp Hoa Kỳ. Ngày 30 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ từ bản gốc vào ngày 30 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2026 .
  181. "Violent Typhoon Dolphin 2026". Accu Weather. ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  182. "China evacuates one million from homes as massive storm arrives". BBC (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2026.
  183. Arceo, Acor (ngày 8 tháng 8 năm 2026). "Metro Manila, over 20 provinces still face heavy rain from southwest monsoon". Manila: Rappler. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2026.
  184. DOST-PAGASA (ngày 1 tháng 8 năm 2026). "Tropical Cyclone Update Luis: At 8:00 PM PHT today (01 August 2026), the Low Pressure Area (LPA 07f) located east of Infanta, Quezon has developed into Tropical Depression LUIS. Tropical Cyclone Bulletins will be issued beginning at 11:00 PM today. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook.
  185. Rojas, Ariel (ngày 1 tháng 8 năm 2026). "LPA off Southern Luzon develops into Tropical Depression Luis". Philippines: ABS-CBN. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026.
  186. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 01Z 1 tháng 8, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 1 tháng 8, 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2026. Truy cập 2 tháng 8, 2026.
  187. Baclig, Cristina Eloisa (ngày 3 tháng 8 năm 2026). "Tropical Depression Luis makes landfall in Isabela". Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
  188. "#13F for LPA" (PDF). PAGASA. ngày 4 tháng 8 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  189. "As of 8:00 AM today, 04 August 2026, a Low Pressure Area (LPA 07f) is being monitored inside the Philippine Area of Responsibility (PAR) and is "UNLIKELY" to redevelop into a tropical depression within the next 24 hours. Another Low Pressure Area (LPA 08a) is being monitored inside the Philippine Area of Responsibility (PAR) and has a "LOW" chance of development into a tropical depression within the next 24 hours. Meanwhile, Typhoon "DOLPHIN" is being monitored outside the Philippine Area of Responsibility (PAR). All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Philippines: PAGASA. ngày 4 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  190. "At 8:00 PM today (04 August 2026), the Low Pressure Area (LPA 08a) located west of Bacnotan, La Union developed into Tropical Depression MAYMAY. Tropical Cyclone Bulletins will be issued beginning at 11:00 PM today. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook. PAGASA. ngày 4 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  191. Arceo, Acor (ngày 6 tháng 8 năm 2026). "Tropical Storm Maymay makes landfall in Ilocos Sur". Rappler. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2026.
  192. Rojas, Ariel (ngày 6 tháng 8 năm 2026). "Maymay weakens into tropical depression". ABS-CBN. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2026.
  193. "#17F for LPA" (PDF). PAGASA. ngày 7 tháng 8 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2026.
  194. "Maymay weakens into LPA". Philippines: GMA News. ngày 7 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2026.
  195. DOST-PAGASA (ngày 8 tháng 8 năm 2026). "As of 8:00 PM today, 08 August 2026, the Low Pressure Area (LPA 08c) being monitored outside the Philippine Area of Responsibility (PAR) has developed into a Tropical Depression. Another Tropical Depression (formerly LPA 08b) is being monitored outside the PAR. Meanwhile, Typhoon "DOLPHIN" is being monitored inside the Tropical Cyclone Information Domain (TCID). All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2026.
  196. Joviland Rita (ngày 4 tháng 8 năm 2026). "OCD: Nearly 42,000 affected by Luis, Maymay, Habagat". GMA Network. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  197. "6 dead as Maymay triggers landslides, floods in Luzon". The Philippine Inquirer. ngày 6 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2026.
  198. Hilda Austria (ngày 6 tháng 8 năm 2026). "Pangasinan crops, infra incur initial P105.7-M damage from bad weather". Philippine News Agency. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2026.
  199. Tropical Weather Advisory for Typhoon T2615 (Chan-hom) at 5 August, 2100 UTC (Báo cáo). Cục Khí tượng Nhật Bản. ngày 5 tháng 8 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2026.
  200. "ABPW10 PGTW 060200 MSGID/GENADMIN/JOINT TYPHOON WRNCEN PEARL HARBOR HI// SUBJ/SIGNIFICANT TROPICAL WEATHER ADVISORY FOR THE WESTERN AND SOUTH PACIFIC OCEANS REISSUED/060200Z-060600ZAUG2026//". www.metoc.navy.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2026.
  201. "Chan-hom TCFA". WIS Portal. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2026.
  202. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 14W (Chan-hom) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 7 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2026. Truy cập 7 tháng 8, 2026.
  203. "As of 8:00 PM today, 08 August 2026, the Low Pressure Area (LPA 08c) being monitored outside the Philippine Area of Responsibility (PAR) has developed into a Tropical Depression. Another Tropical Depression (formerly LPA 08b) is being monitored outside the PAR. Meanwhile, Typhoon "DOLPHIN" is being monitored inside the Tropical Cyclone Information Domain (TCID). All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook. Philippines: PAGASA. ngày 8 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2026.
  204. JTWC (ngày 8 tháng 8 năm 2026). "ABPW10 PGTW 081500".
  205. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 13W (Peilou) Warning No. 10". Joint Typhoon Warning Center. 9 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2026. Truy cập 9 tháng 8, 2026.
  206. "As of 2:00 PM, 09 August 2026, Tropical Depression (formerly LPA 08c) has intensified and is now a Tropical Storm and has been assigned the international name "PEILOU". It is being monitored OUTSIDE the Philippine Area of Responsibility (PAR). All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook. DOST-PAGASA. ngày 9 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2026.
  207. DOST-PAGASA (ngày 8 tháng 8 năm 2026). "As of 8:00 AM today, 08 August 2026, the Low Pressure Area (LPA 08b) being monitored outside the Philippine Area of Responsibility (PAR) has developed into a Tropical Depression. Meanwhile, although Typhoon "DOLPHIN" has exited the monitoring domain (TCID) of PAGASA, continuous monitoring remains in effect, as the typhoon continues to exhibit a wobbling motion that may result in its re-entry into the domain. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook.
  208. "Japan Weather Map|August 9, 2026 12 JST". JMA. ngày 9 tháng 8 năm 2026.
  209. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 15W (FIFTEEN) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 10 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2026. Truy cập 10 tháng 8, 2026.
  210. "Tropical Depression 15W (FIFTEEN) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 10 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2026. Truy cập 10 tháng 8, 2026.
  211. "Nangka Naming". WIS Portal (bằng tiếng Litva). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2026.
  212. "Nangka TCFA". WIS Portal. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2026.
  213. JMA (ngày 15 tháng 8 năm 2026) "気象庁|2026年8月15日の天気図". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2026.
  214. JMA (ngày 15 tháng 8 năm 2026) "気象庁|2026年8月15日の天気図". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2026.
  215. JMA (ngày 16 tháng 8 năm 2026) "気象庁|2026年8月16日の天気図". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2026.
  216. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 92W)". Joint Typhoon Warning Center. 18 tháng 8, 2026. Truy cập 18 tháng 8, 2026.
  217. DOST-PAGASA (ngày 18 tháng 8 năm 2026). "As of 8:00 AM today, 18 August 2026, the Low Pressure Area (LPA 08f) is being monitored inside the Philippine Area of Responsibility (PAR) and has a "HIGH" chance of developing into a tropical depression within the next 24 hours. Another Low Pressure Area (LPA 08g) is being monitored outside the PAR and has a "HIGH" chance of developing into a tropical depression within the next 24 hours. Meanwhile, a Tropical Depression is being monitored outside the PAR. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". www.facebook.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  218. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TS 2618 SAUDEL (2618) UPGRADED FROM TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2026.
  219. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 17W (Saudel) Warning No. 4". Joint Typhoon Warning Center. 19 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2026. Truy cập 19 tháng 8, 2026.
  220. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME STS 2618 SAUDEL (2618) UPGRADED FROM TS (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 20 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  221. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TY 2618 SAUDEL (2618) UPGRADED FROM STS (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 21 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026.
  222. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 17W (Saudel) Warning No. 13". Joint Typhoon Warning Center. 22 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026. Truy cập 22 tháng 8, 2026.
  223. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TS 2618 SAUDEL (2618) UPGRADED FROM TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 31 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  224. "Tropical Storm 17W (Saudel) Warning No. 40". Joint Typhoon Warning Center. 1 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2026. Truy cập 1 tháng 9, 2026.
  225. "SAUDEL UPDATE".
  226. "3 tropical cyclones monitored near PAR; Saudel intensifies, may become super typhoon". GMA News. ngày 23 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2026.
  227. "HKO to issue Standby Signal No. 1 at 6.10pm as remnants of Saudel re-intensify". The Standard. ngày 31 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2026.
  228. "受熱帶氣旋影響可能發佈之警告(更新時間:2026-08-31 18:30)". 地球物理氣象局(DSMG). 澳門特別行政區政府入口網站. ngày 31 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2026.
  229. 台風18号で3人がけが 本島北部では影響残り2200戸が停電 航空便は268便が欠航 [Three people were injured by Typhoon No. 18; lingering effects in the northern part of the main island have left 2,200 households without power, and 268 flights have been cancelled.]. TBS News (bằng tiếng Nhật). ngày 26 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2026.
  230. "Mudslide kills 1 and leaves 11 missing in China after heavy rain brought by tropical storm Saudel". Associated Press. ngày 5 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
  231. JMA (ngày 15 tháng 8 năm 2026) 気象庁|2026年8月17日の天気図. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2026.
  232. "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 18 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  233. "気象庁|2026年8月18日の天気図". JMA. ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  234. "気象庁|2026年8月20日の天気図". JMA. ngày 20 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2026.
  235. "Invest 95W TCFA 8-20-2026". WIS Portal. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2026.
  236. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 18W (EIGHTEEN) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 20 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2026. Truy cập 20 tháng 8, 2026.
  237. "Tropical cyclone track information - GIS version (Tropical Storm)". Đài thiên văn Hồng Kông. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  238. "TIN BÃO TRÊN BIỂN ĐÔNG (Cơn bão số 4) có tên quốc tế là Narra". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  239. "TC 2619 1300 UTC, 21 Aug". Cục Khí tượng Trung Quốc. ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  240. "Typhoon Narra kills one in northern Vietnam". NHK. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2026.
  241. "Typhoon Narra: record flood waters submerge homes and force mass evacuations in China". The Guardian. ngày 25 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2026.
  242. "TIN BÃO KHẨN CẤP (Cơn bão số 4)" (PDF). Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 24 tháng 8 năm 2026. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2026.
  243. Sean, Magbanua (ngày 16 tháng 8 năm 2026). "PAGASA: Two LPAs monitored, one may develop into cyclone". Daily Tribune. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  244. "Aug. 18: LPA inside PAR likely to become tropical depression". Manila: Philippine Star. ngày 18 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  245. De-Vera Ruiz, Ellalyn (ngày 18 tháng 8 năm 2026). "LPA develops into Tropical Depression 'Neneng'". Manila Bulletin. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2026.
  246. WARNING AND SUMMARY 190000 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2026. LOW PRESSURE AREA 1004 HPA NEAR 22N 125E ALMOST STATIONARY.
  247. WARNING AND SUMMARY 191200 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 19 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2026. TROPICAL DEPRESSION 1004 HPA AT 24N 122E NNW SLOWLY.
  248. "#9F for LPA" (PDF). PAGASA. ngày 20 tháng 8 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2026.
  249. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TS 2620 GAENARI (2620) UPGRADED FROM TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 22 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026.
  250. "Typhoon Gaenari makes landfall along coast of east China's Fujian". Xinhua. ngày 24 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2026.
  251. "Homes submerged, tens of thousands relocated in China's south as flooding intensifies". Channel New Asia. ngày 25 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2026.
  252. "Taiwan floods kill 1, disrupt flights as more rain seen". Business Mirror. ngày 25 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2026.
  253. PAGASA (ngày 20 tháng 8 năm 2026). "24-HOUR TROPICAL CYCLONE FORMATION OUTLOOK at 02:00 PM, 20 August". {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  254. PAGASA (ngày 21 tháng 8 năm 2026). "24-HOUR TROPICAL CYCLONE FORMATION OUTLOOK at 08:00 PM, 21 August". {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  255. PAGASA (ngày 22 tháng 8 năm 2026). "24-HOUR TROPICAL CYCLONE FORMATION OUTLOOK at 02:00 AM, 22 August". {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  256. "24-HOUR TROPICAL CYCLONE FORMATION OUTLOOK". PAGASA. ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  257. Arceo, Acor (ngày 22 tháng 8 năm 2026). "Saudel now a typhoon, LPA becomes tropical depression outside PAR". Manila: Rappler. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2026.
  258. "気象庁|2026年8月21日の天気図". JMA. ngày 21 tháng 8 năm 2026.
  259. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 21 tháng 8, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 21 tháng 8, 2026. Truy cập 21 tháng 8, 2026.
  260. JTWC (ngày 22 tháng 8 năm 2026). "ABPW10 PGTW 220230". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  261. JTWC (ngày 22 tháng 8 năm 2026). "WTPN21 PGTW 220800". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  262. "Tropical Depression 19W (NINETEEN) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 22 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2026. Truy cập 22 tháng 8, 2026.
  263. WARNING AND SUMMARY 251200 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 25 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2026.
  264. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 99W)". Joint Typhoon Warning Center. 25 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2026. Truy cập 25 tháng 8, 2026.
  265. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 20W (TWENTY) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 20 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2026. Truy cập 20 tháng 8, 2026.
  266. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 20W (TWENTY) Warning No. 5". Joint Typhoon Warning Center. 20 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026. Truy cập 20 tháng 8, 2026.
  267. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TS 2623 BANG-LANG (2623) UPGRADED FROM TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 28 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2026.
  268. "Prognostic Reasoning for Bão Cuồng Phong 20W (Bang-Lang) Warning No. 10". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2026. Truy cập 27 tháng 8, 2026.
  269. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME STS 2623 BANG-LANG (2623) UPGRADED FROM TS (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 28 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2026.
  270. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TY 2623 BANG-LANG (2623) UPGRADED FROM STS (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 29 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2026.
  271. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME STS 2623 BANG-LANG (2623) DOWNGRADED FROM TY (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 29 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2026.
  272. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 26 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026.
  273. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 91W)". Joint Typhoon Warning Center. 26 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026. Truy cập 26 tháng 8, 2026.
  274. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 20W (TWENTYONE) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026. Truy cập 27 tháng 8, 2026.
  275. RSMC TROPICAL CYCLONE PROGNOSTIC REASONING REASONING NO. 4 FOR TS 2622 ETAU (2622) (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 27 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026.
  276. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 21W (Etau) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 27 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026. Truy cập 27 tháng 8, 2026.
  277. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 21W (Etau) Warning No. 13". Joint Typhoon Warning Center. 30 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2026. Truy cập 30 tháng 8, 2026.
  278. Salcedo, Mary Joy (ngày 28 tháng 8 năm 2026). "Pagasa monitors 2 LPAs, both with chance to develop into cyclone". Manila: Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2026.
  279. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 29 tháng 8, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 29 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2026. Truy cập 29 tháng 8, 2026.
  280. WARNING AND SUMMARY 291200 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 29 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2026.
  281. Ferreras, Vince Angelo (ngày 30 tháng 8 năm 2026). "LPA inside PAR now Tropical Depression Pilandok". GMA News. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2026.
  282. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 94W)". Joint Typhoon Warning Center. 30 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2026. Truy cập 30 tháng 8, 2026.
  283. RSMC TROPICAL CYCLONE ADVISORY NAME TS 2624 KROVANH (2624) UPGRADED FROM TD (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 1 tháng 9 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  284. "#9 for Tropical Storm" (PDF). PAGASA. ngày 1 tháng 9 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  285. "Tropical Storm 22W (Krovanh) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 1 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2026. Truy cập 1 tháng 9, 2026.
  286. "#17F for Tropical Storm" (PDF). PAGASA. ngày 3 tháng 9 năm 2026. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2026.
  287. RSMC TROPICAL CYCLONE PROGNOSTIC REASONING REASONING NO.29 FOR TD LOCATED AT 26N 132E (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 7 tháng 9 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2026.
  288. "More torrential rain forecast to pound southwestern Japan". NHK World-Japan. ngày 5 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
  289. Eun-jung, Na (ngày 5 tháng 9 năm 2026). "Typhoon Krovanh packs unexpected punch, killing 1 and injuring 1 in Jeju gales". The Herald Business. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
  290. "China issues storm surge warning as Typhoon Krovanh nears coast". China Daily. ngày 5 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2026.
  291. WARNING AND SUMMARY 031200 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 3 tháng 9 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2026.
  292. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 97W)". Joint Typhoon Warning Center. 4 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2026. Truy cập 4 tháng 9, 2026.
  293. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 23W (TWENTYTHREE) Warning No. 1". Joint Typhoon Warning Center. 4 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2026. Truy cập 4 tháng 9, 2026.
  294. "Prognostic Reasoning for Không Rõ Cường Độ Xoáy Thuận Nhiệt Đới 23W (TWENTYTHREE) Warning No. 2". Joint Typhoon Warning Center. 4 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2026. Truy cập 4 tháng 9, 2026.
  295. WARNING AND SUMMARY 111800 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 11 tháng 9 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2026.
  296. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 98W)". Joint Typhoon Warning Center. 12 tháng 9, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2026. Truy cập 12 tháng 9, 2026.
  297. JMA (ngày 10 tháng 3 năm 2026) "気象庁|2026年3月11日の天気図".Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  298. JMA (ngày 11 tháng 3 năm 2026) "気象庁|2026年3月11日の天気図". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  299. JMA (ngày 8 tháng 5 năm 2026) "気象庁|2026年5月8日の天気図".Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  300. JMA (ngày 9 tháng 5 năm 2026) "気象庁|2026年5月10日の天気図". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  301. JMA (ngày 9 tháng 6 năm 2026). "気象庁|2026年6月9日の天気図". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  302. JMA (ngày 10 tháng 6 năm 2026). "気象庁|2026年6月10日の天気図". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  303. "24-HOUR PUBLIC WEATHER FORECAST" (PDF). PAGASA. ngày 14 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2026.
  304. "ABPW10 PGTW 160130". JTWC. ngày 16 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  305. "Subtropical Depression 91W best track data". RyanKnack's Web Server. ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  306. https://www.data.jma.go.jp/yoho/data/wxchart/quick/202607/ASAS_COLOR_202607161800.pdf (PDF). Ngày 16 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  307. DOST-PAGASA (ngày 17 tháng 7 năm 2026). "As of 8:00 PM today, 16 July 2026, the Low Pressure Area (LPA 07c) being monitored OUTSIDE the Philippine Area of Responsibility (PAR) has developed into a Tropical Depression. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook.
  308. "Áp thấp nhiệt đới mới hình thành, Philippines dự báo khả năng ảnh hưởng". Báo Lao Động. ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  309. DOST-PAGASA (ngày 17 tháng 7 năm 2026). "As of 2:00 PM today, 17 July 2026, a Tropical Depression has weakened into a Low Pressure Area (LPA 07c) and is being monitored outside the Philippine Area of Responsibility (PAR). It is "UNLIKELY" to redevelop into a tropical depression within the next 24 hours. All are advised to monitor updates from DOST-PAGASA". Facebook.
  310. "TIN ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI TRÊN BIỂN ĐÔNG". Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia. ngày 7 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2026.
  311. "Tropical Cyclone Formation Alert (Invest 93W)". Joint Typhoon Warning Center. 14 tháng 8, 2026. Truy cập 14 tháng 8, 2026. {{Chú thích web}}: |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp)
  312. "Significant Tropical Weather Advisory for the Western and South Pacific Oceans, 19 tháng 8, 2026". Joint Typhoon Warning Center. 19 tháng 8, 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2026. Truy cập 19 tháng 8, 2026.
  313. "WTPA22 PHFO 280831" (bằng tiếng Anh). Central Pacific Hurricane Center. ngày 28 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2028. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  314. "TPPN11 PGTW 281929" (bằng tiếng Anh). Joint Typhoon Warning Center. ngày 29 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2028. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |deadurl= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  315. WARNING AND SUMMARY 300600 (Báo cáo). Japan Meteorological Agency. ngày 30 tháng 8 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2026.
  316. Bonzo, Lyjah Tiffany (ngày 30 tháng 8 năm 2026). "Habagat rains to drench Luzon, Visayas; TD Pilandok east of Northern Luzon". GMA News. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2026.
  317. 1 2 "Monthly Global Tropical Cyclone Summary December 1999". www.australiasevereweather.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  318. 1 2 Ủy ban Bão quốc tế "Cẩm nang hoạt động của Ủy ban Bão năm 2013" (PDF) Tổ chức Khí tượng Thế giới. trang 37–38 .Lưu trữ (PDF) từ bản gốc vào ngày 1 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013 .

Liên kết ngoài

sửa