Mô-đun Mặt Trăng Eagle

mô-đun Mặt Trăng dùng trong sứ mệnh Apollo 11
(Đổi hướng từ Lunar Module Eagle)

Mô-đun Mặt Trăng Eagle (LM-5) là phi thuyền từng phục vụ như tàu đổ bộ có người lái lên Mặt Trăng của Apollo 11, sứ mệnh đầu tiên đưa con người đặt chân lên Nguyệt Cầu. Nó được đặt tên theo đại bàng đầu trắng, loài vật đặc trưng trên huy hiệu nhiệm vụ. LM-5 đã bay từ Trái Đất đến quỹ đạo Mặt Trăng trên mô-đun chỉ huy Columbia, và sau đó được phi hành gia Neil Armstrong lái xuống bề mặt Mặt Trăng vào ngày 20 tháng 7 năm 1969 với sự hỗ trợ dẫn đường từ Buzz Aldrin.[2]

Eagle
Một phần của Apollo 11
Eagle tại Tranquility Base, 20 tháng 7 năm 1969
LoạiMô-đun Mặt Trăng
LớpMô-đun Mặt Trăng Apollo
Nhà sản xuấtGrumman
Thông số kỹ thuật
Khối lượng phóng33.294,5 lb (15.102,1 kg)[1]
Lịch sử
Triển khai20 tháng 7 năm 1969; 56 năm trước (1969-07-20)
Số phận
  • Tầng cất cánh: Bị bỏ lại trên quỹ đạo Mặt Trăng; không rõ địa điểm va chạm
  • Tầng hạ cánh: Hạ cánh tại Tranquility Base; vẫn còn ở trên Mặt Trăng

Tên của con tàu này chính là nguồn gốc của cụm từ "The Eagle has landed" (Đại bàng đã hạ cánh), lời Armstrong đã nói khi Eagle đáp đất.[3]

Chuyến bay

sửa

Ngày 16 tháng 7 năm 1969, Eagle cùng với mô-đun chỉ huy Columbia được phóng trên đỉnh tên lửa đẩy Saturn V tại Tổ hợp Phóng 39A.[2] Eagle đi lên quỹ đạo sau 12 phút.[4][5] Đến ngày 19 tháng 7, LM-5 tiến vào quỹ đạo Mặt Trăng.[5][6] Hôm sau, Neil ArmstrongBuzz Aldrin di chuyển sang LM rồi tách nó ra khỏi Columbia.[7]

Eagle hạ cánh xuống Mặt Trăng lúc 20:17:40 UTC ngày 20 tháng 7 năm 1969, với lượng nhiên liệu còn lại là 216 pound (98 kg).[8][9] Sau khi hoàn tất các hoạt động trên bề mặt, hai phi hành gia quay về Eagle vào ngày 21 tháng 7. 17:54:00 UTC, họ bay lên bằng tầng cất cánh của Eagle để tái hợp với Michael Collins đang ở trên Columbia.[10][11]

Sau khi phi hành đoàn bước vào mô-đun chỉ huy, Eagle đã bị bỏ lại trên quỹ đạo Mặt Trăng.[12] Vị trí va chạm của nó với bề mặt Mặt Trăng trong quá trình phân rã quỹ đạo vẫn chưa được xác định. Có một số bằng chứng cho thấy Eagle nhiều khả năng vẫn còn ở trên quỹ đạo.[13][14]

Thư viện ảnh

sửa

Xem thêm

sửa

Tham khảo

sửa
  1. "Selected Mission Weights". history.nasa.gov. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  2. 1 2 Chaikin 1994, tr. 197.
  3. Cresswell, J. (2007). The Cat's Pyjamas: The Penguin Book of Clichés. Penguin Books Limited. tr. 427. ISBN 978-0-14-102516-2. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2021.
  4. Collins 2001, tr. 374–375.
  5. 1 2 Orloff 2000, tr. 106.
  6. Woods, W. David; MacTaggart, Kenneth D.; O'Brien, Frank (ngày 10 tháng 2 năm 2017). "Day 4, part 1: Entering Lunar Orbit". Apollo Flight Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2019 qua NASA.
  7. Orloff 2000, tr. 107.
  8. Jones, Eric M., biên tập (1995). "The First Lunar Landing". Apollo 11 Lunar Surface Journal. NASA. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013.
  9. Orloff 2000, tr. 295.
  10. Jones, Eric M., biên tập (1995). "Trying to Rest". Apollo 11 Lunar Surface Journal. NASA. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013.
  11. Orloff 2000, tr. 108.
  12. Orloff 2000, tr. 109.
  13. "Location of Apollo Lunar Modules". Bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Smithsonian. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018.
  14. Meador, James (tháng 10 năm 2021). "Long-term orbit stability of the Apollo 11 "Eagle" Lunar Module Ascent Stage". Planetary and Space Science. 205: 105304. arXiv:2105.10088. Bibcode:2021P&SS..20505304M. doi:10.1016/j.pss.2021.105304. ISSN 0032-0633. S2CID 235125876.

Thư mục

sửa

Đọc thêm

sửa

Bản mẫu:Phần cứng chương trình Apollo