Người Khơ Mú

nhóm sắc tộc
(Đổi hướng từ Khmu)

Người Khơ Mú (tiếng Khơ Mú: /kmm̥uʔ ~ kmmúʔ/; tiếng Lào: ຂະມຸ [kʰámūʔ]; tiếng Thái: ขมุ [kʰāmùʔ]; tiếng Miến Điện: ခမူ, ở Trung Quốc phiên âm Hán là Khắc Mộc (tiếng Trung: 克木; bính âm: kèmù), tên gọi khác ở Việt Nam là Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy, trong văn liệu Latinh ghi là Khmu, Khamu hay Khammu) là một trong những nhóm sắc tộc lớn nhất sinh sống tại khu vực bắc Đông Nam Á. Họ cư trú ở miền bắc Lào, Myanmar, tây nam Trung Quốc (trong châu tự trị Tây Song Bản Nạp thuộc tỉnh Vân Nam), Thái Lan, và Việt Nam.

Người Khơ Mú
Phụ nữ Khơ Mú tại tỉnh Bokeo, Lào
Tổng dân số
k. 800.000
Khu vực có số dân đáng kể
 Lào708.412 (2015)[1]
Việt Nam90.612 (2019)[2]
 Thái Lan10.000
 Trung Quốc7.000
Ngôn ngữ
Tiếng Khơ Mú, khác
Tôn giáo
Vật linh, Phật giáo thượng tọa bộ, Kitô

Tại Việt Nam, người Khơ Mú là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.[3] Tuy nhiên tại Trung Quốc thì họ lại không được công nhận chính thức như là một dân tộc tách biệt mà được đặt trong một thể loại rộng là các nhóm sắc tộc không phân loại.

Người Khơ Mú nói tiếng Khơ Mú, một ngôn ngữ thuộc nhánh Khmuic của ngữ hệ Nam Á. Người Khơ Mú là sắc tộc sinh sống sớm nhất tại Lào, cùng với người Môn tại Thái Lan và người Mường tại Việt Nam tạo nên những cộng đồng cư dân bản địa sớm nhất ở khu vực.

Dân số và địa bàn cư trú

sửa

Người Khơ Mú là những cư dân bản thổ ở miền bắc Lào. Hiện tại có khoảng 479.249-540.000 người Khơ Mú khắp thế giới, với dân số khoảng 389.694 người (năm 1985) tại Lào,[4] 72.929 người (năm 2009) tại Việt Nam,[4][5] 31.403 (năm 2000) tại Thái Lan,[4] 1.600 người (năm 1990) tại Trung Quốc,[4] không rõ số liệu tại Myanmar và cỡ 8.000 tại Hoa Kỳ[cần dẫn nguồn].

Tại Lào

sửa

Người Khơ Mú tại Lào chủ yếu sống trong tỉnh Luang PrabangXiêng Khoảng. Phần lớn các làng mạc của người Khơ Mú bị cô lập và có sự phát triển chậm chạp do ở các vùng xa xôi khó khăn. Trong nhiều khu vực, họ sinh sống bên cạnh người H'Mông và các nhóm sắc tộc thiểu số khác.

Tại Việt Nam

sửa

Tại Việt Nam, họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Thanh Hóa với số dân theo điều tra dân số năm 2019 có 90.612 người,[6] năm 1999 khoảng 56.542 người.[5]

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Khơ Mú ở Việt Nam có dân số 90.612 người, cư trú tại 44 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Khơ Mú cư trú tập trung tại các tỉnh:

Tại Thái Lan

sửa

Phần lớn người Khơ Mú tại Thái Lan đã tới đây trong giai đoạn gần đây từ Lào và Việt Nam như là những người tị nạn, cũng từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Họ sống tập trung gần biên giới Lào-Thái Lan.[8] Người Khơ Mú có quan hệ huyết thống gần gũi với Mlabri, người lá vàng bản địa của Thái Lan.

Tại Trung Quốc

sửa

Tại Trung Quốc có khoảng 1.600-2.000 người Khơ Mú sinh sống rải rác trong tỉnh Vân Nam, được xếp vào nhóm không phân loại.

Tại Hoa Kỳ

sửa

Tại Hoa Kỳ, một lượng lớn người Khơ Mú sinh sống tại Richmond (California), chủ yếu là người tị nạn, di cư từ sau chiến tranh Việt Nam. California cũng là trung tâm của cả Khmu National Federation Inc. và Kmhmu Catholic National Center.[9][10]

Kinh tế

sửa

Người Khơ Mú là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy, do đó họ còn được gọi là "Xá ăn lửa". Phương thức sản xuất truyền thống là du canh du cư hoặc canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Công cụ sản xuất quan trọng nhất là chiếc gậy chọc lỗ (có thể là gậy đơn hoặc gậy kép bịt sắt), bên cạnh rìu, dao và cuốc. Cây trồng chính bao gồm lúa, ngô, bầu bí, đỗ và các loại cây có củ.[11] Ngoài trồng trọt, người Khơ Mú còn chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà để phục vụ sức kéo, nhu cầu tiêu dùng và tín ngưỡng. Các nghề phụ gia đình như đan lát đồ gia dụng rất phát triển, một số nơi còn có nghề rèn, mộc và dệt vải. Hoạt động săn bắn, hái lượm và đánh bắt thủy sản dưới khe suối vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện bữa ăn và trao đổi hàng hóa. Trước đây, người Khơ Mú sử dụng vỏ ốc "kxoong" làm vật ngang giá trong mua bán.[12]

Văn hóa

sửa

Tín ngưỡng và đời sống tâm linh

sửa

Tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người Khơ Mú mang đậm dấu ấn của thế giới quan "vạn vật hữu linh", nơi con người và thiên nhiên có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Người Khơ Mú quan niệm thế giới xung quanh đầy rẫy các linh hồn (ma), trong đó có 5 loại ma quan trọng nhất là ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà.[11] Bên cạnh đó, họ còn tôn thờ các vị thần cai quản tự nhiên như thần núi, thần rừng, thần khe suối để cầu nguồn nước và gỗ làm nhà.[cần dẫn nguồn] Các linh hồn này thường mang lại điều lành nhưng cũng có thể gây tai họa nếu bị làm cho giận dữ, do đó các nghi lễ cúng bái được thực hiện nhằm bày tỏ sự tôn kính và cầu mong bình an.[12]

Việc thờ cúng tổ tiên là phong tục không thể thiếu trong mỗi gia đình người Khơ Mú. Trong ngôi nhà sàn, gian đầu hồi luôn được dành riêng để thờ ma nhà (tổ tiên), đây là nơi rất kiêng kỵ với người ngoài. Mỗi dòng họ Khơ Mú thường mang tên một vật tổ là loài thú, chim hoặc cây cỏ (như hổ, chìa vôi, rau đớn...) và các thành viên trong họ tuyệt đối kiêng giết mổ hay ăn thịt loài vật tổ đó.[11][13]

Đời sống tâm linh của người Khơ Mú gắn liền với chu kỳ canh tác nương rẫy thông qua các nghi lễ như Lễ hội Cầu mùa và Lễ mừng cơm mới. Lễ hội Cầu mùa gồm nhiều phần như cúng ma nhà, tôn vinh thần lúa, thần khoai sọ, lễ cầu mưa và lễ chọc lỗ tra hạt để xin thần linh bảo vệ hạt giống khỏi chim muông thú rừng.[14] Trong dịp Tết Nguyên đán, người Khơ Mú thường mổ hai con gà để cúng tiễn năm cũ và đón năm mới. Một phong tục độc đáo là gia chủ bôi một chút máu gà lên đầu gối của mỗi thành viên trong gia đình để cầu xin sự bình an, sức khỏe và học hành tiến tới.[15] Ngoài ra, các nghi thức ma chay cũng rất phức tạp với những bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ đồng hồ.[11]

Nhà ở và phương tiện vận chuyển

sửa

Do đặc điểm du canh du cư, bản làng người Khơ Mú thường nhỏ bé và rải rác. Họ ở nhà sàn, truyền thống thường dùng cột không ngoãm, vách phên và sàn bằng bương. Bản của họ thường tọa lạc ở lưng chừng núi hoặc ven suối để thuận tiện cho việc canh tác và lấy nước. Hiện nay, nhiều nơi đã xây dựng nhà cửa khang trang và vững chãi hơn nhờ chính sách định canh định cư.[11][12] Phương tiện vận chuyển cơ bản là chiếc gùi có dây đeo trên trán, ách hoặc các loại túi đeo; những vùng làm ruộng nước có thêm sọt gánh.

Trang phục truyền thống

sửa

Trang phục của người Khơ Mú có sự giao thoa với người Thái nhưng vẫn giữ những nét riêng biệt, đặc biệt là ở phụ nữ. Phụ nữ mặc áo cóm màu đen dài đến eo, cổ cắt hình chữ V có nẹp viền thổ cẩm thêu hoa văn rực rỡ. Điểm nhấn độc đáo nhất là các hàng tiền bạc và vỏ ốc đính trên thân áo, tượng trưng cho khát vọng sung túc và sự che chở của thần Mặt trời. Họ mặc váy đen dài đến bắp chân, quấn thắt lưng bằng lụa màu sáng (láp la) và đội khăn piêu (hưm pông) thêu tinh tế với các tua rua sặc sỡ.[16][17] Nam giới thường mặc quần áo bằng vải bông nhuộm chàm giản dị. Người già thường mặc áo dài màu đen và đội mũ nồi trong các dịp lễ tết, còn người trẻ mặc áo ngắn có khuy vải. Ngày nay, nam giới có xu hướng ăn mặc giống người Kinh.[11]

Ẩm thực

sửa

Ẩm thực Khơ Mú mang đậm hương vị núi rừng với sở thích ăn các món có vị cay, chua, đắng và các món nướng có mùi thơm đặc trưng. Trong bữa ăn hàng ngày, họ thường đồ xôi nếp, ngô hoặc độn sắn; các món ăn kèm phổ biến là chẻo, nậm pịa và cá chua.[11] Mâm cỗ ngày Tết không thể thiếu bánh chưng (ma gựp) gói hình khum dài bằng lá dong, nhân thịt lợn trộn đỗ hoặc lạc. Các món đặc sản bao gồm "xương lam" (xương sụn băm nhỏ trộn gia vị nhồi ống nứa nướng) và "mọc" (thịt hoặc nấm rừng gói lá chuối hông chín). Bên cạnh đó là các món canh độc đáo: "canh pịa" nấu từ phụ tạng động vật trộn gia vị và vèo non; "lám nhọc" là món canh thập cẩm sền sệt gồm rau bí, da trâu nướng, thịt sóc và xôi nướng được lam trong ống nứa. Sau bữa ăn, họ thường tráng miệng bằng bí đỏ hông, khoai sọ và mía tím.[18][19]

Tham khảo

sửa
  1. "Results of Population and Housing Census 2015" (PDF). Lao Statistics Bureau. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  2. "Report on Results of the 2019 Census". General Statistics Office of Vietnam. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  3. Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2016. Truy cập 11/04/2019.
  4. 1 2 3 4 =kjg Khmu trên website của SIL International.
  5. 1 2 Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Phần I: Biểu Tổng hợp. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 18/08/2015.
  6. Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số 2019. p. 44. Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê, 19/12/2019. Truy cập 1/09/2020.
  7. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  8. "Khmu Profile". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009.
  9. "Khmu National Federation, Inc". Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009.
  10. "Kmhmu Catholic National Center". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009.
  11. 1 2 3 4 5 6 7 "Người Khơ Mú". Ủy ban Dân tộc. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  12. 1 2 3 "Người Khơ Mú". Báo ảnh Dân tộc và Miền núi. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  13. "Kỳ lạ phong tục đặt họ theo tên loài vật của người Khơ Mú". Znews. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  14. "Lễ hội độc đáo của người Khơ Mú". Báo Đại Đoàn Kết. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  15. "Nét độc đáo Tết cổ truyền của dân tộc Khơ Mú". Báo Dân trí. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  16. "Đặc sắc nét văn hóa của người Khơ Mú - Bài 2: Trang phục của người Khơ Mú". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  17. "Khám phá nét đặc sắc của trang phục truyền thống dân tộc Khơ Mú". Báo Công Thương. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  18. "Mâm cỗ ngày tết của người Khơ Mú". Báo Dân trí. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  19. "Ẩm thực miền sơn cước "hút hồn" người xuôi". Báo Giáo dục và Thời đại. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.