Hot Fuss
Hot Fuss là album phòng thu đầu tay của ban nhạc rock người Mỹ The Killers, do hãng thu âm Island Records phát hành tại Anh Quốc (ngày 7 tháng 6 năm 2004) và Hoa Kỳ (ngày 15 tháng 6 năm 2004). Âm nhạc của album chịu ảnh hưởng chủ yếu từ các dòng nhạc new wave và post-punk. Hot Fuss đã cho ra đời bốn đĩa đơn thành công cả về mặt chuyên môn lẫn thương mại: "Mr. Brightside", "Somebody Told Me", "All These Things That I've Done" và "Smile Like You Mean It".
| Hot Fuss | ||||
|---|---|---|---|---|
![]() | ||||
| Album phòng thu của The Killers | ||||
| Phát hành | 7 tháng 6 năm 2004 | |||
| Thu âm | 2003 | |||
| Phòng thu |
| |||
| Thể loại | ||||
| Thời lượng | 45:39 | |||
| Hãng đĩa | Island | |||
| Sản xuất |
| |||
| Thứ tự album của The Killers | ||||
| ||||
| Đĩa đơn từ Hot Fuss | ||||
| ||||
Hot Fuss đạt vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng Billboard 200 và vươn lên ngôi đầu bảng tại UK Albums Chart. Tính đến tháng 12 năm 2012[cập nhật], tác phẩm đã bán được hơn 7 triệu bản trên toàn thế giới, trong đó có hơn 3 triệu bản tại Mỹ và hơn 2 triệu bản tại Anh. Album cũng đã được chứng nhận đĩa Bạch kim hoặc Đa bạch kim tại Úc, Canada, Ireland và New Zealand. Cả album cùng ba đĩa đơn đầu tiên đã nhận được tổng cộng năm đề cử giải Grammy tại lễ trao giải Grammy 2005.
Hoàn cảnh ra đời
sửaAlbum được thu âm xuyên suốt năm 2003 với sự cộng tác của Jeff Saltzman tại Berkeley, California, ngoại trừ bài "Everything Will Be Alright" được Corlene Byrd thu âm tại căn hộ của tay guitar Dave Keuning. Nhiều bài hát ban đầu chỉ được thu dưới dạng bản demo, nhưng nhóm nhạc quyết định giữ lại vì yếu tố ngẫu hứng. Album được Mark Needham phối tại Cornerstone Studios ở Los Angeles và Alan Moulder phối tại Eden Studios ở Luân Đôn. Năm 2012, Brandon Flowers chia sẻ với NME rằng anh cảm thấy "chán nản" sau khi nghe album Is This It của The Strokes. Anh nói: "Đĩa nhạc đó nghe hoàn hảo đến mức chúng tôi đã vứt bỏ mọi thứ [đang thực hiện] và ca khúc duy nhất vượt qua vòng sàng lọc và được giữ lại là 'Mr. Brightside.'"[1]
Hai ca khúc "Midnight Show" và "Jenny Was a Friend of Mine" là hai phần trong bản nhạc được là "Murder Trilogy" - kể chi tiết câu chuyện hư cấu về một người phụ nữ bị người bạn trai ghen tuông sát hại. Phần đầu tiên - "Leave the Bourbon on the Shelf", xuất hiện trong album tổng hợp các ca khúc mặt B và album tổng hợp hiếm Sawdust.[2]
Sản xuất
sửaAlbum chủ yếu sử dụng hiệu ứng giọng hát tên Echo Farmtrên giọng của Flowers. Năm 2014, Needham kể lại: "Có ba người chúng tôi tham gia vào công ty sản xuất bản thu này: Braden Merrick, Jeff Saltzman và tôi. Jeff và tôi đã là đối tác vài năm. Anh ấy là luật sư giải trí và đi chào bán các sản phẩm, nhưng thực sự cũng rất muốn trở thành một nhà sản xuất. Chúng tôi lập cho Jeff một phòng thu, giúp anh bắt đầu công việc thu âm và vì là người thông minh, anh học rất nhanh. Lúc đó, Echo Farm vừa ra mắt và đó thực sự là hiệu ứng giọng hát duy nhất anh có. Nếu bạn mở Echo Farm, cài đặt đầu tiên hiện ra là mặc định, nó làm giọng hát hơi quá tải và đặt độ trễ 84 ms. Đó cơ bản là thứ anh ấy áp dụng cho mọi thứ và nó trở thành âm sắc giọng mặc định trên toàn bộ album, thêm vào đó nó hoạt động rất tuyệt nên chúng tôi giữ lại. Nó có thay đổi đôi chút trên một vài đoạn, nhưng đó là một hiệu ứng khá nhất quán xuyên suốt album."[3]
Thiết kế bìa đĩa
sửaẢnh bìa album được chụp bởi Matthias Clamer vào năm 2000, tại khu vực phía nam ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc.[4] Các chữ Hán trên đỉnh mỗi tòa nhà ("建", "材", "开" và "发") dịch ra có nghĩa là "phát triển vật liệu xây dựng".[5]
Phát hành và đón nhận
sửa| Đánh giá chuyên môn | |
|---|---|
| Điểm trung bình | |
| Nguồn | Đánh giá |
| Metacritic | 66/100[6] |
| Nguồn đánh giá | |
| Nguồn | Đánh giá |
| AllMusic | |
| Alternative Press | 4/5[8] |
| Blender | |
| Entertainment Weekly | C[10] |
| The Independent | |
| NME | 7/10[12] |
| Pitchfork | 5,2/10[13] |
| Q | |
| Rolling Stone | |
| Spin | |
Hot Fuss nhận được những đánh giá chung tích cực từ giới phê bình. Trên Metacritic, album đạt điểm trung bình có trọng số 66 trên 100 dựa trên 20 bài đánh giá, cho thấy "những đánh giá phần lớn thuận lợi".[6] Hot Fuss được phát hành vào ngày 7 tháng 6 năm 2004 tại Vương quốc Anh và ngày 15 tháng 6 năm 2004 tại Hoa Kỳ.[17] Năm 2005, album được tái bản dưới dạng một hộp gồm 11 đĩa than 7-inch, với mỗi mặt A là một ca khúc trong album và mặt B là các ca khúc không nằm trong album.[18] Album đạt vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ và được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) chứng nhận đĩa Bạch kim ba lần vào ngày 1 tháng 12 năm 2005. Tính đến tháng 1 năm 2017, album đã bán được 3,75 triệu bản tại Mỹ.[19]
Tại Vương quốc Anh, Hot Fuss giành ngôi đầu bảng UK Albums Chart trong hai tuần liên tiếp vào tháng 1 năm 2005.[20] Đây là album bán chạy thứ 26 trong thập niên 2000 tại Anh và nằm trong top 40 album có thời gian trụ hạng lâu nhất trong lịch sử UK Albums Chart với 254 tuần.[20] Ngày 22 tháng 7 năm 2013, Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Anh (BPI) chứng nhận album đạt Bạch kim bảy lần. Tính đến tháng 8 năm 2020, album đã bán được hơn 2,3 triệu bản tại Anh.[21] Năm 2022, album được xướng tên là album đầu tay thành công thứ 20 trong lịch sử bảng xếp hạng Anh.[22] Album cũng đã được chứng nhận Bạch kim hoặc Đa Bạch kim tại Úc, Canada, Ireland và New Zealand. Tính đến tháng 12 năm 2012, Hot Fuss đã bán được hơn bảy triệu bản trên toàn thế giới.[23]
Tạp chí Rolling Stone xếp Hot Fuss ở vị trí thứ 43 trong danh sách "100 album hay nhất thập niên" và album từng được liệt kê trong số "1001 album bạn phải nghe trước khi chết". Độc giả của Gigwise đã bình chọn đây là album đầu tay hay nhất mọi thời đại vào năm 2013.[24] Rolling Stone cũng xếp Hot Fuss ở vị trí thứ 33 trong danh sách "100 album đầu tay vĩ đại nhất mọi thời đại".[25]
Giải thưởng
sửa| Năm | Năm trao giải | Giải thưởng | Kết quả |
|---|---|---|---|
| 2004 | Giải thưởng âm nhạc Shortlist | Giải thưởng âm nhạc Shortlist | Đề cử |
| 2005 | Giải Brit | Album quốc tế xuất sắc nhất | Đề cử |
| Giải Grammy | Album rock xuất sắc nhất | Đề cử | |
| Giải thưởng âm nhạc Meteor Ireland | Album quốc tế xuất sắc nhất | Đề cử | |
| Năm | Ấn phẩm | Danh hiệu | Quốc gia | Thứ hạng | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|
| 2004 | Drowned in Sound | Những album hay nhất năm | Liên hiệp Anh | 2 | |
| 2009 | Rolling Stone | Top 100 album hay nhất thập niên 2000 | Hoa Kỳ | 43 | [26] |
| The A.V. Club | Top 100 album hay nhất thập niên 2000 | 41 | [27] | ||
| 2011 | Q | 250 album xuất sắc nhất trong thời gian hoạt động 1986–2010 của Q | Liên hiệp Anh | 17 | [28] |
| 2013 | Gigwise | Album đầu tay vĩ đại nhất: Bầu chọn của độc giả | Hoa Kỳ | 1 | [24] |
| NME | 500 album vĩ đại nhất mọi thời | 495 | [29] | ||
| Rolling Stone | 100 album đầu tay vĩ đại nhất mọi thời | 33 | [25] | ||
| 10 album đầu tay vĩ đại nhất: Bầu chọn của độc giả | 9 | [30] |
Danh sách ca khúc
sửaTất cả các bài nhạc do Jeff Saltzman và The Killers sản xuất, trừ bài "Everything Will Be Alright" do Brandon Flowers sản xuất.
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
|---|---|---|---|
| 1. | "Jenny Was a Friend of Mine" |
| 4:04 |
| 2. | "Mr. Brightside" |
| 3:43 |
| 3. | "Smile Like You Mean It" |
| 3:54 |
| 4. | "Somebody Told Me" |
| 3:17 |
| 5. | "All These Things That I've Done" | Flowers | 5:01 |
| 6. | "Andy, You're a Star" | Flowers | 3:14 |
| 7. | "On Top" |
| 4:18 |
| 8. | "Change Your Mind" |
| 3:11 |
| 9. | "Believe Me Natalie" |
| 5:05 |
| 10. | "Midnight Show" |
| 4:02 |
| 11. | "Everything Will Be Alright" | Flowers | 5:45 |
| Alternate track on UK and Australian editions | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 8. | "Glamorous Indie Rock & Roll" |
| 4:14 |
| Bonus track on US vinyl edition | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 12. | "Glamorous Indie Rock & Roll" |
| 4:14 |
| Bonus tracks on European edition | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 12. | "Glamorous Indie Rock & Roll" |
| 4:14 |
| 13. | "Somebody Told Me" (music video) | ||
| Bonus tracks on the Enhanced edition | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 12. | "Glamorous Indie Rock & Roll" |
| 4:14 |
| 13. | "Mr. Brightside" (Jacques Lu Cont's Thin White Duke mix) |
| 4:38 |
| 14. | "Somebody Told Me" (music video) | 3:18 | |
| 15. | "Mr. Brightside" (music video) | 3:44 | |
| Bonus tracks on Japanese and US 2005 limited edition | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 12. | "Glamorous Indie Rock & Roll" |
| 4:14 |
| 13. | "The Ballad of Michael Valentine" |
| 3:49 |
| 14. | "Under the Gun" |
| 2:33 |
| iTunes Store deluxe edition bonus tracks | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 12. | "Somebody Told Me" (Mylo mix) | 7:17 |
| 13. | "Smile Like You Mean It" (Fischerspooner mix) | 6:24 |
| 14. | "Smile Like You Mean It" (Ruff and Jam Eastside mix) | 7:35 |
| 7-inch limited edition box set B-sides | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 1. | "Somebody Told Me" (Josh Harris remix) | |
| 2. | "Under the Gun" | |
| 3. | "Show You How" | |
| 4. | "The Ballad of Michael Valentine" | |
| 5. | "Why Don't You Find Out for Yourself?" | |
| 6. | "Ruby, Don't Take Your Love to Town" | |
| 7. | "Mr. Brightside" (Thin White Duke remix edit) | |
| 8. | "Glamorous Indie Rock and Roll" | |
| 9. | "Smile Like You Mean It" (acoustic version) | |
| 10. | "Who Let You Go?" | |
| 11. | "Get Trashed" | |
| Bonus DVD on Japanese limited tour edition | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 1. | "Somebody Told Me" (music video) | |
| 2. | "Mr. Brightside" (original music video) | |
| 3. | "Mr. Brightside" (new music video) | |
| 4. | "All These Things That I've Done" (music video) | |
| Bonus DVD on UK special edition | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 1. | "Smile Like You Mean It" (music video) | |
| 2. | "All These Things That I've Done" (music video) | |
| 3. | "Somebody Told Me" (Glastonbury 2005) | |
| 4. | "Jenny Was a Friend of Mine" (Glastonbury 2005) | |
| 5. | "Mr. Brightside" (Glastonbury 2005) | |
Thành phần tham gia sản xuất
sửaNhững người tham gia sản xuất album được lấy thông tin từ các dòng ghi chú của album Hot Fuss.
The Killers
sửa- Brandon Flowers – hát, synthesizer
- Dave Keuning – guitar
- Mark Stoermer – bass
- Ronnie Vannucci Jr. – trống
Nhạc sĩ hỗ trợ
sửa- Sweet Inspirations – hợp xướng phúc âm (bài 5, 6)
Kỹ thuật viên
sửa- Jeff Saltzman – sản xuất, thu âm (bài 1–10)
- The Killers – sản xuất (bài 1–10)
- Brandon Flowers – sản xuất (bài 11)
- Corlene Byrd – thu âm (bài 11)
- Dave Stedronsky – hỗ trợ kỹ sư thu âm
- Mark Needham – hỗ trợ kỹ sư thu âm (tất cả các bài); phối khí[c] (bài 2, 3, 8, 11)
- Will Brierre – hỗ trợ kỹ sư thu âm
- Dario Dendi – hỗ trợ kỹ sư thu âm
- Alan Moulder – phối khí[d] (bài 1, 4–7, 9, 10)
- Brian "Big Bass" Gardner – mastering[e]
Thiết kế bìa đĩa
sửa- Louis Marino – chỉ đạo nghệ thuật
- Seth Goldfarb – chụp ảnh bìa
- Matt Hartman – nhiếp ảnh gia của ban nhạc
Bảng xếp hạng
sửa
Bảng xếp hạng tuần
|
Bảng xếp hạng cuối năm
Bảng xếp hạng cuối thập niênBảng xếp hạng cuối thế kỷ
|
Chứng nhận
sửa| Quốc gia | Chứng nhận | Số đơn vị/doanh số chứng nhận |
|---|---|---|
| Argentina (CAPIF)[77] | Vàng | 20.000^ |
| Úc (ARIA)[78] | 6× Bạch kim | 420.000‡ |
| Bỉ (BEA)[79] | Vàng | 25.000* |
| Canada (Music Canada)[80] | 8× Bạch kim | 800.000‡ |
| Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)[81] | 2× Bạch kim | 40.000‡ |
| Pháp (SNEP)[82] | Vàng | 100.000* |
| Đức (BVMI)[83] | Vàng | 150.000^ |
| Ý (FIMI)[84] doanh số từ năm 2009 |
Vàng | 25.000‡ |
| New Zealand (RMNZ)[85] | 4× Bạch kim | 60.000‡ |
| Singapore (RIAS)[86] | Vàng | 5.000* |
| Hàn Quốc | — | 2.623[87] |
| Anh Quốc (BPI)[88] | 8× Bạch kim | 2.400.000‡ |
| Hoa Kỳ (RIAA)[89] | 6× Bạch kim | 6.000.000‡ |
| Tổng hợp | ||
| Châu Âu (IFPI)[90] | Bạch kim | 1.000.000* |
| Toàn thế giới | — | 7.000.000[23] |
|
* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ. | ||
Lịch sử phát hành
sửa| Khu vực | Ngày | Hãng thu âm |
|---|---|---|
| Liên hiệp Anh | 7 tháng 6 năm 2004 | Lizard King |
| Hoa Kỳ | 15 tháng 6 năm 2004 | Island |
Ghi chú
sửa- 1 2 Trừ bài "Everything Will Be Alright"
- ↑ "Everything Will Be Alright"
- ↑ Phối khí tại Cornerstone Recording Studios (Los Angeles, California)
- ↑ Phối khí tại Eden Studios (Luân Đôn) và The Town House (Luân Đôn)
- ↑ Master tại Bernie Grundman Mastering (Hollywood, California)
Chú thích
sửa- ↑ Britton, Luke Morgan (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "The Strokes talk about their rivalry with The Killers". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019.
- ↑ "Missing part of The Killers' 'murder trilogy' appears online". NME (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Psychology of a Mix Engineer: An Interview With Mark Needham" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Clamer, Matthias (ngày 26 tháng 1 năm 2016). "I took this picture in the suburbs of Beijing in 2000. An unknown band called #thekillers asked if they could use it for their album cover, projecting to sell 5000 copies. They sold 7 million. I credit the album art. Just kidding, I love this album. I shot the band 3 times since. #hotfuss" (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2020 – qua Instagram.
- ↑ Beaumont, Mark (ngày 7 tháng 6 năm 2014). "Anatomy of an Album – The Killers: Hot Fuss". NME (bằng tiếng Anh). ISSN 0028-6362. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2020 – qua Tumblr.
- 1 2 "Reviews for Hot Fuss by The Killers" (bằng tiếng Anh). Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Wilson, MacKenzie. "Hot Fuss – The Killers". AllMusic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "The Killers: Hot Fuss". Alternative Press (bằng tiếng Anh). Số 192. tháng 7 năm 2004. tr. 146. ISSN 1065-1667.
- ↑ Lynskey, Dorian (June–July 2004). "The Killers: Hot Fuss". Blender (bằng tiếng Anh). Số 27. tr. 138. ISSN 1534-0554. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2016.
- ↑ Browne, David (ngày 18 tháng 6 năm 2004). "Hot Fuss". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Số 770. tr. 86. ISSN 1049-0434. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2011.
- ↑ Price, Simon (ngày 6 tháng 6 năm 2004). "The Killers: Hot Fuss". The Independent (bằng tiếng Anh). ISSN 0951-9467.
- ↑ Martin, Dan (ngày 1 tháng 7 năm 2004). "The Killers : Hot Fuss". NME (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2025.
- ↑ Loftus, Johnny (ngày 5 tháng 7 năm 2004). "The Killers: Hot Fuss". Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011.
- ↑ "The Killers: Hot Fuss". Q (bằng tiếng Anh). Số 216. tháng 7 năm 2004. tr. 116. ISSN 0955-4955.
- ↑ Eliscu, Jenny (ngày 8 tháng 7 năm 2004). "Hot Fuss". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Số 952. ISSN 0035-791X. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2011.
- ↑ Marchese, David (tháng 2 năm 2009). "Discography: The Killers". Spin (bằng tiếng Anh). Quyển 25 số 2. tr. 74. ISSN 0886-3032 – qua Google Books.
- ↑ Begrand, Adrien (ngày 15 tháng 6 năm 2004). "The Killers: Hot Fuss". PopMatters. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009.
- ↑ "Killers Box Up 'Hot Fuss' Singles" Lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine.
- ↑ Caulfield, Keith (ngày 26 tháng 1 năm 2017). "Billboard 200 Chart Moves: 3 Doors Down & Toby Keith Return After Trump Inauguration Concert". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- 1 2 "The Killers | full Official Chart History". Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Paine, Andre (ngày 28 tháng 8 năm 2020). "The Killers top 50,000 sales with sixth No.1 album". Music Week. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Britton, Luke Morgan (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "The Strokes talk about their rivalry with The Killers". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019.
- 1 2 Alexandra, Rae (ngày 5 tháng 12 năm 2012). "Hate the Killers? Here's Why You Shouldn't". SF Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- 1 2 "The Killers' Hot Fuss named best debut album ever". Gigwise. ngày 29 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013.
- 1 2 "The 100 Best Debut Albums of All Time: 'Hot Fuss'". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "100 Best Albums of the 2000s". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "The best music of the decade". The A.V. Club (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "Radiohead's OK Computer named best album of the past 25 years". The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). London. ngày 22 tháng 12 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "International Velvet". NME (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "9. The Killers, 'Hot Fuss'". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "Australiancharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Austriancharts.at – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Ultratop.be – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Ultratop.be – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "The Killers Chart History (Canadian Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "Dutchcharts.nl – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Hits of the World". Billboard (bằng tiếng Anh). Quyển 117 số 6. ngày 5 tháng 2 năm 2005. tr. 43. ISSN 0006-2510 – qua Google Books.
- ↑ "Killers: Hot Fuss" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Lescharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Longplay-Chartverfolgung at Musicline" (bằng tiếng Đức). Musicline.de. Phononet GmbH. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ Top 50 Ξένων Άλμπουμ [Top 50 Foreign Albums] (bằng tiếng Hy Lạp). IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "Irish-charts.com – Discography The Killers" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Italiancharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ ザ・キラーズのアルバム売り上げランキング [The Killers album sales ranking] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
- ↑ "Mexicancharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "Charts.nz – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Official Scottish Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Spanishcharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Swisscharts.com – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Official Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Official Independent Albums Chart Top 50" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "Official R&B Albums Chart Top 40" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "The Killers Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2004" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Billboard 200 Albums – Year-End 2004". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "ARIA Top 100 Albums for 2005" (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Year End European Top 100 Albums Chart 2005 01 – 2005 52" (PDF). Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Tops de l'Année | Top Albums 2005" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Best of 2005 – Albums" (bằng tiếng Anh). Irish Recorded Music Association. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Top Selling Albums of 2005" (bằng tiếng Anh). Recorded Music NZ. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2014.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2005" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Billboard 200 Albums – Year-End 2005". Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Top 50 Global Best Selling Albums for 2005" (PDF) (bằng tiếng Anh). International Federation of the Phonographic Industry. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2006" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Jaaroverzichten 2007 – Mid price" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "Rapports annuels 2007 – Mid price" (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2007" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "UK Year-End Charts 2008" (PDF). UKChartsPlus (bằng tiếng Anh). tr. 7. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012.
- ↑ "UK Year-End Charts 2009" (PDF). UKChartsPlus (bằng tiếng Anh). tr. 7. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012.
- ↑ "ARIA Top 100 Vinyl Albums 2018" (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "ARIA Top 100 Vinyl Albums 2019" (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "ARIA Top 100 Albums of the 00's" (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "The Noughties' Official UK Albums Chart Top 100". Music Week (bằng tiếng Anh). London. ngày 30 tháng 1 năm 2010. tr. 19. ISSN 0265-1548.
- ↑ "Decade End Charts – Billboard 200 Albums". Billboard (bằng tiếng Anh). 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Official Top 100 biggest selling vinyl albums of the decade" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. ngày 14 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
- ↑ White, Jack (ngày 12 tháng 10 năm 2019). "The UK's Official Top 40 biggest studio albums of the 21st Century" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "Discos de Oro y Platino" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "ARIA Charts – Accreditations – 2024 Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Ultratop − Goud en Platina – albums 2007" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. ngày 7 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ↑ "Chứng nhận album Canada – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Music Canada. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "Chứng nhận album Đan Mạch – Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Đan Mạch). IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Chứng nhận album Pháp – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. ngày 7 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Gold-/Platin-Datenbank (The Killers; 'Hot Fuss')" (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Chứng nhận album Ý – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "Chứng nhận album New Zealand – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Radioscope. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2025. Nhập Hot Fuss trong mục "Search:".
- ↑ "Chứng nhận album Singapore – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Singapore. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "2005.04월 – POP 음반 판매량" (bằng tiếng Hàn). Recording Industry Association of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Chứng nhận album Anh Quốc – Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – The Killers – Hot Fuss" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. ngày 8 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "IFPI Platinum Europe Awards – 2008". Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
