Bundeswehr
Bundeswehr (tiếng Đức: [ˈbʊndəsˌveːɐ̯] ⓘ, ý nghĩa: Lực lượng Quốc phòng Liên bang) là lực lượng vũ trang của Cộng hòa Liên bang Đức. Bundeswehr được chia thành khối quân sự (các lực lượng vũ trang hay Streitkräfte) và khối dân sự. Khối quân sự bao gồm bốn quân chủng: Lục quân Đức, Hải quân Đức, Không quân Đức và Lực lượng Tác chiến Không gian mạng và Thông tin, vốn được hỗ trợ bởi Bộ tư lệnh Hỗ trợ Hiệp đồng Bundeswehr.
| Lực lượng Quốc phòng Liên bang | |
|---|---|
| Bundeswehr | |
| Khẩu hiệu | Wir. Dienen. Deutschland.[1] ("Chúng tôi. Phục vụ. Nước Đức.") |
| Thành lập | 12 tháng 11 năm 1955 |
| Tổ chức hiện tại | 3 tháng 10 năm 1990 |
| Các quân chủng |
|
| Sở chỉ huy | Berlin, Bonn, và Potsdam |
| Website | https://www.bundeswehr.de/ |
| Lãnh đạo | |
| Tổng tư lệnh |
|
| Thủ tướng | |
| Bộ trưởng Bộ Quốc phòng | |
| Tổng thanh tra | |
| Nhân lực | |
| Tuổi nhập ngũ | 17 |
| Cưỡng bách tòng quân | Không (nghĩa vụ quân sự bắt buộc đã bị đình chỉ từ tháng 7 năm 2011 theo luật) |
| Số quân tại ngũ | 186.221 (28 tháng 2 năm 2026)[4] (hạng Thứ 30) |
| Số quân dự bị | ≈ 860.000 (2025)[5] |
| Số quân triển khai | 2.000 |
| Phí tổn | |
| Ngân sách | 108,2 tỷ € (2026)[6] (127 tỷ US$) Bao gồm đợt phân bổ thứ 4 của quỹ tài sản đặc biệt[6] |
| Phần trăm GDP | 2,39% (2025)[7] |
| Công nghiệp | |
| Nhà cung cấp nội địa | Airbus Rheinmetall Howaldtswerke-Deutsche Werft KNDS Deutschland Hensoldt MBDA Deutschland GmbH Heckler & Koch Diehl Defence Carl Walther GmbH |
| Nhà cung cấp nước ngoài | |
| Nhập khẩu hàng năm | US$85 triệu (2014–2022)[8] |
| Xuất khẩu hàng năm | US$1.53 tỷ (2014–2022)[8] |
Tính đến ngày 31 tháng 1 năm 2026, Bundeswehr có quân số gồm 186.221 quân nhân tại ngũ và 81.205 nhân viên dân sự,[4] xếp trong nhóm 30 lực lượng quân sự lớn nhất thế giới, đồng thời là lực lượng lớn thứ hai trong Liên minh Châu Âu chỉ sau Pháp. Ngoài ra, Bundeswehr có khoảng 860.000 quân nhân dự bị (2025).[5] Với ngân sách quân sự của Đức đạt mức 127 tỷ USD (108,2 tỷ €) vào năm 2026,[6] Bundeswehr là lực lượng quân sự được tài trợ ngân sách cao thứ tư trên thế giới. Chi tiêu quốc phòng của Đức trung bình đạt khoảng 1,2% GDP trong thập kỷ trước đó, thấp hơn nhiều so với mức định hướng 2% của NATO, mục tiêu mà Đức lần đầu tiên đáp ứng được vào năm 2024.[9][10] Các hướng dẫn chi tiêu sửa đổi của NATO kêu gọi phân bổ 3,5% GDP cho quốc phòng và thêm 1,5% cho khả năng phục hồi cơ sở hạ tầng trọng yếu, một ngưỡng đã được tán thành tại hội nghị thượng đỉnh Hague năm 2025.[11] Đức đang đặt mục tiêu mở rộng quy mô Bundeswehr lên khoảng 203.000 binh sĩ vào năm 2031 để đối phó tốt hơn với các trách nhiệm ngày càng tăng.[12]
Trước những mối lo ngại từ cuộc xâm lược Ukraine của Nga, Đức đã công bố một bước chuyển dịch lớn trong chính sách, cam kết thành lập một quỹ đặc biệt trị giá 100 tỷ € (116,344 tỷ USD) dành cho Bundeswehr — nhằm khắc phục tình trạng thiếu đầu tư trong nhiều năm — cùng với việc nâng ngân sách lên trên mức 2% GDP.[13] Vào năm 2025, Hiến pháp Đức đã được sửa đổi, miễn trừ các khoản chi tiêu quân sự và tình báo trên mức 1% GDP khỏi quy định Schuldenbremse (phanh nợ / giới hạn nợ công).[14]
Lịch sử
sửaCác nguyên tắc nền tảng
sửaCái tên Bundeswehr lần đầu tiên được đề xuất bởi cựu tướng Wehrmacht và chính trị gia phái Tự do Hasso von Manteuffel.[15] Huân chương Thập tự Sắt (Eisernes Kreuz), một biểu tượng gắn liền từ lâu với quân đội Đức, là huy hiệu chính thức của lực lượng này. Biểu tượng Thập tự Đen (Schwarzes Kreuz) bắt nguồn từ phù hiệu thập tự đen của các Hiệp sĩ Teuton thời trung cổ; kể từ năm 1813, biểu tượng này đã được sử dụng để chỉ một loại huân huy chương quân sự dành cho tất cả các cấp bậc.
Khi Bundeswehr được thành lập vào năm 1955, các nguyên tắc nền tảng của nó dựa trên việc phát triển một lực lượng quân sự hoàn toàn mới nhằm bảo vệ Tây Đức. Về khía cạnh này, Bundeswehr không tự coi mình là lực lượng kế thừa của Reichswehr (1921–1935) thời Cộng hòa Weimar hay Wehrmacht (1935–1945) dưới thời Adolf Hitler, và không tuân theo truyền thống của bất kỳ tổ chức quân sự cựu trào nào trước đây của Đức. Đặc tính chính thức của nó dựa trên ba chủ đề lớn:[16]
- Mục tiêu của các nhà cải cách quân sự vào đầu thế kỷ 19 như Scharnhorst, Gneisenau, và Clausewitz
- Hành động quả cảm của các thành viên thuộc lực lượng kháng chiến quân sự chống lại Adolf Hitler, đặc biệt là âm mưu ám sát ông ta của Claus von Stauffenberg và Henning von Tresckow.
- Các truyền thống quân sự tự thân được thiết lập từ năm 1955.


Một trong những truyền thống rõ nét nhất của Bundeswehr hiện đại là nghi lễ Großer Zapfenstreich. Đây là một hình thức xăm binh và biểu diễn quân nhạc kết hợp nghi lễ có nguồn gốc từ thời kỳ lính đánh thuê Landsknecht. Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) đã khôi phục lại nghi lễ quân sự trang trọng này vào năm 1952, ba năm trước khi thành lập Bundeswehr. Ngày nay, nghi lễ được thực hiện bởi một ban nhạc quân đội với 4 kèn trumpet hiệu và trống định âm (timpani), một đội trống, tối đa hai đại đội hộ tống thuộc Tiểu đoàn Cảnh vệ của Bundeswehr (hoặc một đơn vị được ủy nhiệm khác) cùng những người rước đuốc. Nghi lễ Zapfenstreich chỉ được thực hiện trong các ngày lễ quốc gia hoặc các lễ kỷ niệm công cộng long trọng. Nghi lễ này có thể nhằm vinh danh các nhân vật xuất chúng hiện diện như Tổng thống Liên bang Đức, hoặc để kết thúc các cuộc diễn tập quân sự quy mô lớn.
Một truyền thống quan trọng khác trong lực lượng vũ trang Đức hiện đại là nghi lễ tuyên thệ Gelöbnis: lời thề long trọng được thực hiện bởi các quân nhân chuyên nghiệp đang phục vụ và các tân binh (và trước đây là lính nghĩa vụ) trong quá trình huấn luyện cơ bản. Có hai loại lời thề: lời cam kết dành cho tân binh và lời tuyên thệ long trọng dành cho quân nhân chuyên nghiệp phục vụ toàn thời gian.
Lời cam kết được thực hiện hàng năm vào ngày 20 tháng 7, ngày mà một nhóm sĩ quan Wehrmacht đã thực hiện âm mưu ám sát Adolf Hitler vào năm 1944. Các tân binh từ Tiểu đoàn Cảnh vệ của Bundeswehr sẽ thực hiện lời tuyên thệ của họ tại Bendlerblock ở Berlin. Đây từng là sở chỉ huy của lực lượng kháng chiến và cũng là nơi các sĩ quan bị hành quyết ngay lập tức sau sự thất bại của âm mưu ám sát Hitler. Các lễ tưởng niệm quốc gia được tổ chức gần đó trong khuôn viên của tòa nhà Reichstag. Các sự kiện tương tự cũng diễn ra trên khắp nước Đức. Kể từ năm 2011, khi nghĩa vụ quân sự bắt buộc bị đình chỉ, nội dung của lời thề nghi lễ dành cho các tân binh toàn thời gian và quân nhân tình nguyện là:
- "Ich gelobe, der Bundesrepublik Deutschland treu zu dienen und das Recht und die Freiheit des deutschen Volkes tapfer zu verteidigen."
- "Tôi cam kết phục vụ Cộng hòa Liên bang Đức một cách trung thành và dũng cảm bảo vệ công lý cũng như tự do của nhân dân Đức."
- "Ich gelobe, der Bundesrepublik Deutschland treu zu dienen und das Recht und die Freiheit des deutschen Volkes tapfer zu verteidigen."
Các quân nhân đang phục vụ trong Bundeswehr thay cụm từ "Ich gelobe, ..." bằng "Ich schwöre, ..." ("Tôi xin thề...").
Chiến tranh Lạnh: 1955–1990
sửa
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, trách nhiệm bảo đảm an ninh cho toàn bộ nước Đức thuộc về bốn Cường quốc Đồng minh chiếm đóng: Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp và Liên Xô. Nước Đức hoàn toàn không có lực lượng vũ trang kể từ khi quân đội Wehrmacht bị giải thể sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Khi Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập vào năm 1949, quốc gia này không có quân đội. Đức vẫn bị phi quân sự hóa hoàn toàn và mọi kế hoạch xây dựng quân đội Đức đều bị nghiêm cấm theo các quy định của Đồng minh.
Một số đơn vị quét mìn đường biển như Cục Quét mìn Đức (Deutscher Minenräumdienst) tiếp tục tồn tại, nhưng họ không được vũ trang, đặt dưới sự kiểm soát của Đồng minh và không đóng vai trò là lực lượng quốc phòng quốc gia. Lực lượng Bảo vệ Biên giới Liên bang (Bundesgrenzschutz), một lực lượng cảnh sát cơ động được vũ trang nhẹ gồm 10.000 người, đã được thành lập vào ngày 14 tháng 3 năm 1951 và mở rộng quy mô lên 20.000 người vào ngày 19 tháng 6 năm 1953. Một đề xuất nhằm tích hợp các đơn vị Tây Đức với binh sĩ của Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và Ý trong một Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu đã được đưa ra nhưng chưa bao giờ được triển khai.
Đã có những cuộc thảo luận giữa Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Pháp về vấn đề hồi sinh quân đội (Tây) Đức. Đặc biệt, Pháp rất ngần ngại trong việc cho phép Đức tái vũ trang do những bài học lịch sử gần đây (Đức từng xâm lược Pháp hai lần trong ký ức của thế hệ bấy giờ, vào Chiến tranh Thế giới thứ nhất và Chiến tranh Thế giới thứ hai, đồng thời đánh bại Pháp trong cuộc Chiến tranh Pháp–Phổ những năm 1870/71). Tuy nhiên, sau khi dự án Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu thất bại tại Quốc hội Pháp vào năm 1954, Pháp đã chấp thuận cho Tây Đức gia nhập NATO và tái vũ trang.

Trước những căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Liên Xô và phương Tây, đặc biệt là sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên, chính sách này buộc phải xem xét lại. Trong khi Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) đã âm thầm tái vũ trang từ trước, những mầm mống đầu tiên của một lực lượng Tây Đức mới đã bắt đầu xuất hiện vào năm 1950, khi các cựu sĩ quan cao cấp của Đức được Thủ tướng Konrad Adenauer giao nhiệm vụ thảo luận về các phương án Tái vũ trang Tây Đức. Kết quả của cuộc họp tại tu viện Himmerod đã tạo nên nền tảng khái niệm để xây dựng các lực lượng vũ trang mới ở Tây Đức.
Cơ quan Blank (Amt Blank, được đặt theo tên của giám đốc Theodor Blank), tiền thân của Bộ Quốc phòng Liên bang sau này, được thành lập cùng năm để chuẩn bị cho việc thành lập các lực lượng trong tương lai. Hasso von Manteuffel, một cựu tướng lĩnh của Wehrmacht và là chính trị gia thuộc Đảng Dân chủ Tự do, đã đệ trình cái tên Bundeswehr cho lực lượng mới. Tên gọi này sau đó đã được Quốc hội Liên bang Tây Đức (Bundestag) phê chuẩn.
Lực lượng Bundeswehr chính thức được thành lập vào ngày kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Scharnhorst (12 tháng 11 năm 1955). Về mặt nhân sự và giáo dục, đặc điểm ban đầu quan trọng nhất của các lực lượng vũ trang Đức mới là định hướng phát triển họ thành những công dân bảo vệ một nhà nước dân chủ, hoàn toàn phụ thuộc vào sự lãnh đạo chính trị của đất nước.[17] Một ủy ban thẩm định nhân sự đã được thành lập để đảm bảo rằng các đại tá và tướng lĩnh tương lai của các lực lượng vũ trang là những người có thái độ chính trị và kinh nghiệm phù hợp với nhà nước dân chủ mới.[18] Có một số nhà cải cách then chốt, chẳng hạn như Tướng Ulrich de Maiziere, Tướng Bá tước von Kielmansegg và Bá tước von Baudissin,[19] những người đã nhấn mạnh lại một số phần mang tính dân chủ hơn trong lịch sử các lực lượng vũ trang Đức nhằm thiết lập một nền tảng quân sự - dân sự vững chắc để làm cơ sở xây dựng lực lượng.

Sau một sửa đổi đối với Luật Cơ bản vào năm 1955, Tây Đức chính thức trở thành thành viên của NATO. Cuộc duyệt binh công khai đầu tiên diễn ra tại Andernach vào tháng 1 năm 1956.[20] Vào năm 1956, nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với tất cả nam giới từ 18 đến 45 tuổi được tái áp dụng, về sau được bổ sung thêm một hình thức dịch vụ dân sự thay thế có thời gian kéo dài hơn (xem Nghĩa vụ quân sự tại Đức). Để đáp trả, Đông Đức đã thành lập lực lượng quân sự của riêng mình, Quân đội Nhân dân Quốc gia (NVA) vào năm 1956, dù nghĩa vụ quân sự bắt buộc tại đây chỉ được thiết lập vào năm 1962. Quân đội Nhân dân Quốc gia cuối cùng đã bị giải thể khi nước Đức tái thống nhất vào năm 1990. Nghĩa vụ quân sự bắt buộc đã bị đình chỉ – nhưng không hoàn toàn bị bãi bỏ như một phương án dự phòng – vào tháng 1 năm 2011.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, lực lượng Bundeswehr là xương sống trong hệ thống phòng thủ quy ước của NATO tại Trung Âu. Lực lượng này sở hữu quân số gồm 495.000 quân nhân và 170.000 nhân viên dân sự. Dù Đức có lực lượng vũ trang quy mô nhỏ hơn Pháp và Hoa Kỳ, nhà lịch sử Chiến tranh Lạnh John Lewis Gaddis vẫn đánh giá Bundeswehr "có lẽ là quân đội tốt nhất thế giới".[21] Lực lượng Lục quân bao gồm ba quân đoàn với 12 sư đoàn, phần lớn trong số đó được trang bị mạnh mẽ với xe tăng và xe bọc thép chở quân (APC). Lực lượng Không quân (Luftwaffe) sở hữu số lượng lớn máy bay chiến đấu chiến thuật và tham gia vào Hệ thống phòng không tích hợp của NATO (NATINAD). Lực lượng Hải quân được giao nhiệm vụ và trang bị để bảo vệ các lối tiếp cận Biển Baltic, cung cấp hộ tống tăng viện và tiếp tế vận tải hàng hải ở Biển Bắc, đồng thời kìm hãm Hạm đội Baltic của Liên Xô.
Trong cuộc Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan vào thập niên 1980, các lực lượng đặc nhiệm Đức thuộc Bundeswehr đã được triển khai như một phần của một chiến dịch bí mật. Trong thời gian này, Chiến dịch Mưa Mùa hè đóng một vai trò quan trọng. Cục Tình báo Liên bang Đức (BND) đã tiến hành nhiệm vụ bí mật này, trong đó các lực lượng đặc nhiệm được xâm nhập từ Tây Đức sang Pakistan rồi vào Afghanistan.
Nhiệm vụ chính của các đơn vị đặc biệt này là bí mật thu thập công nghệ vũ khí của Liên Xô, bao gồm lớp giáp cho trực thăng chiến đấu, phương tiện cơ giới, mìn mặt đất, các loại đạn hiện đại như đạn uranium, đầu đạn tên lửa, thiết bị nhìn đêm và công nghệ định vị. Việc hợp tác với lực lượng nổi dậy Mujahideen là trọng tâm của chiến dịch bí mật này.
Trong suốt thời gian này, Bundeswehr không tham gia vào các hoạt động chiến đấu trực tiếp. Tuy nhiên, đã có một số cuộc diễn tập huấn luyện quy mô lớn dẫn đến các thương vong trong quá trình vận hành. Sự cố đầu tiên thuộc loại này xảy ra vào tháng 6 năm 1957, khi 15 tân binh nhảy dù chết đuối ở sông Iller, Bavaria.[22]
Tái thống nhất nước Đức năm 1990
sửa
Vào thời điểm tái thống nhất, quân đội Đức sở hữu quân số khoảng 585.000 binh sĩ.[12] Là một phần của tiến trình tái thống nhất nước Đức, theo Hiệp ước về việc giải quyết cuối cùng đối với nước Đức (Hiệp ước Hai cộng Bốn) vốn là nền tảng mở đường cho sự thống nhất, lực lượng Bundeswehr phải giảm quy mô xuống còn 370.000 quân nhân, trong đó không quá 345.000 người thuộc Lục quân và Không quân.[23] Đây là đóng góp của Đức vào Hiệp ước về các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu (CFE), và các hạn chế này sẽ có hiệu lực đồng thời với hiệp ước CFE. Hệ quả là Bundeswehr đã bị cắt giảm đáng kể, và lực lượng Quân đội Nhân dân Quốc gia (NVA) của Đông Đức cũ bị giải thể ngay tại thời điểm nước Đức thống nhất, với một phần quân số và khí tài được sáp nhập vào Bundeswehr.
Khoang 50.000 quân nhân thuộc lực lượng Volksarmee đã được tích hợp vào Bundeswehr vào ngày 2 tháng 10 năm 1990. Con số này nhanh chóng giảm xuống khi các binh sĩ nghĩa vụ và tình nguyện viên ngắn hạn hoàn thành thời gian phục vụ của họ. Một số sĩ quan cao cấp (nhưng không bao gồm các tướng lĩnh hoặc đô đốc) đã nhận được hợp đồng có thời hạn tối đa hai năm để duy trì các hoạt động hàng ngày. Những quân nhân ở lại phục vụ trong Bundeswehr được trao hợp đồng mới và quân hàm mới, tùy thuộc vào năng lực chuyên môn và kinh nghiệm cá nhân của họ. Nhiều người trong số họ đã bị hạ và phải chấp nhận mức quân hàm thấp hơn so với cấp bậc từng nắm giữ trước đây trong Volksarmee.
Nhìn chung, tiến trình hợp nhất hai nền quân đội – dưới khẩu hiệu "Armee der Einheit" (hay "Quân đội của sự Thống nhất") – được công chúng đánh giá là một thành công lớn và là hình mẫu cho các thành phần khác trong xã hội.
Cùng với việc cắt giảm quân số, một lượng lớn khí tài quân sự của cả Bundeswehr lẫn Volksarmee đều phải đem đi xử lý. Phần lớn các phương tiện bọc thép và máy bay tiêm kích (lực lượng Bundesluftwaffe – do hệ quả từ cuộc tái thống nhất – trở thành lực lượng không quân duy nhất trên thế giới vận hành song song cả dòng Phantoms lẫn tiêm kích MiG) đã bị tháo dỡ theo các quy trình giải trừ quân bị quốc tế. Nhiều tàu chiến bị loại biên bán phế liệu hoặc bán lại, thường là cho các quốc gia Baltic hoặc Indonesia (quốc gia Đông Nam Á này đã tiếp nhận 39 tàu cũ thuộc nhiều chủng loại khác nhau của lực lượng Volksmarine).
Sau khi tái thống nhất, tất cả các hạn chế về việc sản xuất và sở hữu vũ khí thông thường từng áp đặt lên Bundeswehr như một điều kiện để Tây Đức tái vũ trang đều chính thức được bãi bỏ.[24]
Kể từ năm 1996, Đức cũng sở hữu lực lượng đặc nhiệm của riêng mình, mang tên Kommando Spezialkräfte (Bộ tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm). Lực lượng này được thành lập sau khi các công dân Đức phải nhờ đến sự giải cứu khỏi cuộc Diệt chủng Rwanda bởi lực lượng Lính dù Đặc nhiệm Bỉ, do các đội đặc nhiệm của Cảnh sát Liên bang Đức không đạt năng lực tác chiến trong một vùng chiến sự.
Định hướng lại chiến lược
sửaMột sự kiện lớn đối với quân đội Đức là chuỗi cắt giảm chi tiêu quốc phòng và việc đình chỉ chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với nam giới vào năm 2011. Các biện pháp này được đưa ra bởi Thủ tướng Angela Merkel và Bộ trưởng Bộ Tài chính Wolfgang Schäuble như một phần của chính sách khắc khổ nhằm ứng phó với cuộc Đại suy thoái và cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu. Trong giai đoạn 2011–2012, một đợt cải tổ lớn đối với Bundeswehr đã được công bố dưới thời Bộ trưởng Thomas de Maizière, tiếp tục giới hạn số lượng các căn cứ quân sự và quân nhân. Lực lượng lục quân của Bundeswehr sẽ chỉ còn ba đơn vị lớn cấp sư đoàn thay vì năm đơn vị như trước đó. Số lượng lữ đoàn cũng giảm từ mười một xuống còn tám.[25]
Chi phí quân sự của Đức thấp hơn so với các quốc gia tương đương như Vương quốc Anh, hoặc các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu như Pháp, đặc biệt khi xét đến quy mô dân số và nền kinh tế lớn hơn của Đức. Sự chênh lệch này thường xuyên vấp phải sự chỉ trích từ các đồng minh NATO của Đức, từ tận thời kỳ Robert M. Gates làm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới chính quyền Tổng thống Obama.[26][27]
Như một hệ quả từ Hội nghị thượng đỉnh NATO 2014 tại Wales với sự tham dự của cả bà Merkel và bà Ursula von der Leyen vào tháng 9 năm 2014,[28] lực lượng Bundeswehr vào tháng 10 cùng năm đã phải thừa nhận những vấn đề kinh niên về trang thiết bị, khiến quân đội của họ "không thể thực hiện được các cam kết phòng thủ với NATO". Trong số các vấn đề được nêu ra có các hệ thống vũ khí bị trục trặc, các phương tiện bọc thép, máy bay và tàu hải quân không đủ điều kiện để đưa vào chiến đấu ngay lập tức do thiếu bảo dưỡng, cùng tình trạng thiếu hụt trầm trọng trang thiết bị và linh kiện thay thế. Tình hình tồi tệ đến mức vào năm 2016, phía Đức thừa nhận rằng hầu hết máy bay tiêm kích và trực thăng chiến đấu của nước này không ở trong trạng thái sẵn sàng triển khai,[29][30][31] dù lực lượng Không quân sở hữu gần 38.000 binh sĩ,[25] đi kèm là hệ thống nhà trẻ mẫu giáo cùng cơ sở hạ tầng tiện ích của bà von der Leyen.[32][33]
Vào năm 2015, do hệ quả từ cuộc sáp nhập Crimea của Liên bang Nga, Đức đã công bố một động thái được gọi là "sự gia tăng lớn" trong chi tiêu quốc phòng. Vào tháng 5 năm 2015, chính phủ Đức đã thông qua việc tăng chi tiêu quốc phòng (tại thời điểm đó chiếm 1,3% GDP) thêm 6,2% trong vòng 5 năm tiếp theo, cho phép Bộ Quốc phòng hiện đại hóa toàn diện quân đội.[34] Cuộc cải cách năm 2015 đặt ra mục tiêu quân số bắt buộc là 185.000 binh sĩ.[35] Các kế hoạch cũng được công bố nhằm mở rộng đáng kể phi đội xe tăng lên con số tiềm năng là 328 chiếc, đặt hàng thêm 131 xe bọc thép chở quân Boxer, tăng cường hạm đội tàu ngầm và phát triển một dòng máy bay tiêm kích mới để thay thế cho mẫu Panavia Tornado.[36][37][38][39] Đức từng cân nhắc tăng quy mô quân đội,[35] và vào tháng 5 năm 2016, quốc gia này thông báo sẽ chi 130 tỷ euro cho các trang thiết bị mới vào năm 2030 và bổ sung gần 7.000 binh sĩ vào năm 2023 trong đợt mở rộng quân sự đầu tiên của Đức kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.[40][41] Vào tháng 2 năm 2017, chính phủ Đức công bố một đợt mở rộng khác, dự kiến sẽ tăng số lượng binh sĩ chuyên nghiệp thêm 20.000 người vào năm 2024.[42]
Tính đến tháng 5 năm 2025, lần đầu tiên trong lịch sử hậu chiến, lực lượng Bundeswehr đã đóng quân thường trực một lữ đoàn thiết giáp đầy đủ ở nước ngoài. Lữ đoàn Thiết giáp số 45 "Litauen" đồn trú tại Lithuania là một phần trong chiến lược Zeitenwende (Bước ngoặt thời đại) rộng lớn hơn của Đức nhằm củng cố sườn phía đông của NATO và chuyển đổi từ các đợt triển khai luân phiên sang sự hiện diện tiền phương mang tính cấu trúc.[43] Lữ đoàn dự kiến sẽ bao gồm 2.000 quân nhân vào năm 2026, với cơ sở hạ tầng hỗ trợ bổ sung được phối hợp cung cấp bởi cả Đức và Lithuania.
Phối hợp với các đối tác châu Âu
sửaNhư một hệ quả từ sự hợp tác cải tiến giữa Hà Lan và Đức, kể từ năm 2014, hai trong số ba lữ đoàn của Lục quân Hoàng gia Hà Lan đã đặt dưới sự chỉ huy của Đức. Vào năm 2014, Lữ đoàn Không vận số 11 đã được tích hợp vào Sư đoàn Lực lượng Phản ứng nhanh (DSK) của Đức. Lữ đoàn Bộ binh cơ giới số 43 của Hà Lan được biên chế vào Sư đoàn Thiết giáp số 1 của quân đội Đức, với tiến trình tích hợp bắt đầu từ đầu năm 2016 và đơn vị này chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 2019.[44] Vào tháng 2 năm 2016, có thông báo rằng Seebataillon của Hải quân Đức sẽ bắt đầu hoạt động dưới sự chỉ huy của Hải quân Hoàng gia Hà Lan.[45] Sự hợp tác quân sự Đức–Hà Lan vào năm 2016 được bà von der Leyen và Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan Jeanine Hennis-Plasschaert nhìn nhận như một hình mẫu để thiết lập một liên minh phòng thủ châu Âu.[45]
Theo một chính sách được bà von der Leyen ban hành vào tháng 2 năm 2017, lực lượng Bundeswehr sẽ đóng vai trò lớn hơn như một "quân đội mỏ neo" cho các quốc gia NATO nhỏ hơn, thông qua việc cải thiện sự phối hợp giữa các sư đoàn của mình với các Lữ đoàn của các thành viên có quy mô nhỏ hơn.[46]
Một đề xuất tiếp theo của Bộ trưởng Quốc phòng Ursula von der Leyen nhằm cho phép các công dân EU không có quốc tịch Đức tham gia vào lực lượng Bundeswehr đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ vào tháng 7 năm 2016, ngay cả từ chính đảng của bà.[47]
Vào tháng 2 năm 2017, có thông báo rằng Lữ đoàn Triển khai nhanh số 4 của Cộng hòa Séc và Lữ đoàn Bộ binh cơ giới số 81 của Romania sẽ được tích hợp vào Sư đoàn Thiết giáp số 10 và Sư đoàn Lực lượng Phản ứng nhanh của Đức.[48] Mối liên kết giữa Lữ đoàn Triển khai nhanh số 4 và Sư đoàn Thiết giáp số 10 không phải là một sáng kiến biệt lập giữa Séc và Đức.[49] Nó được xếp cạnh các trường hợp:
- Hà Lan – ba lữ đoàn được tích hợp vào các sư đoàn Đức kể từ năm 2016.
- Romania – Lữ đoàn Bộ binh cơ giới số 9 gắn liền với Sư đoàn Lực lượng Phản ứng nhanh của Bundeswehr.
- Lithuania (2025) – thành lập Lữ đoàn Thiết giáp số 45 thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 10 cho lữ đoàn thường trực mới của Đức tại Rūdninkai.[43]
Nhìn chung, Đức đang từng bước đóng góp vào một cấu trúc sư đoàn được tích hợp sẵn.
Hệ quả từ cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022
sửaTính đến ngày 2022 tháng 12 năm 31[cập nhật], số lượng quân nhân đang hoạt động trong lực lượng Bundeswehr là 183.051 người.[4] Chi tiêu quân sự của Đức đạt mức 52,8 tỷ USD vào năm 2020, chiếm khoảng 1,3% GDP của quốc gia.[50]
Vào cuối tháng 2 năm 2022, trước bối cảnh cuộc xâm lược Ukraine của Nga, thủ tướng Olaf Scholz đã công bố một kế hoạch tăng cường sức mạnh cho quân đội Đức, cam kết dành 100 tỷ euro (112,7 tỷ USD) trong ngân sách năm 2022 cho lực lượng vũ trang và lặp lại lời hứa đạt mức chi tiêu quốc phòng tương đương 2% tổng sản phẩm quốc nội phù hợp với "yêu cầu" của NATO (theo cách bình luận của hãng thông tấn Deutsche Welle).[51][13]
Theo thông tin từ các chính trị gia quốc phòng thuộc nghị viện liên bang Đức, đại diện của ngành công nghiệp vũ khí và các chuyên gia khác, vào tháng 10 năm 2022, lực lượng Bundeswehr chỉ có đủ cơ số đạn dược dự trữ cho từ một đến hai ngày nếu xảy ra chiến tranh.[52][53] Một báo cáo do Bộ Quốc phòng thực hiện đã tiết lộ các vấn đề tồn đọng trong lực lượng Bundeswehr như mức độ sẵn sàng chiến đấu hạn chế và tình trạng thiếu hụt trang thiết bị. Trong lá thư kèm theo báo cáo được gửi tới Nghị viện Liên bang Đức, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lưu ý rằng tình hình sẽ được cải thiện nhưng "việc lấp đầy các khoảng trống cần có thời gian".[54]
Vào năm 2025, chính phủ mới dưới thời Thủ tướng Friedrich Merz đã thông qua các đạo luật nhằm mở rộng đáng kể lực lượng Bundeswehr, cả về khí tài lẫn nhân lực. Ngân sách quân sự hàng năm của Đức dự kiến sẽ tăng từ khoảng 2% GDP vào năm 2025 lên 3,5% vào năm 2029.[55] Vào tháng 10 năm 2025, Bộ Quốc phòng Liên bang đã hợp nhất kế hoạch mua sắm của mình vào một khuôn khổ duy nhất với tổng giá trị khoảng 377 tỷ euro cho khoảng 320 chương trình trải dài trên các lĩnh vực hàng không, hải quân, lục quân, phòng không, đạn dược và C4ISR.[56] Một chiến dịch mới nhằm thu hút thêm tình nguyện viên và các cơ chế tuyển quân bắt buộc trong trường hợp các nỗ lực này không đủ đáp ứng ("Mô hình Bắc Âu") đã được công bố và sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2026. Mục tiêu là đạt quân số 260.000 nhân sự Bundeswehr tại ngũ, tăng 30% so với quy mô năm 2025.[57]
Vào tháng 4 năm 2026, Đức đã công bố chiến lược quân sự độc lập đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai mang tên "Verantwortung für Europa" (Trách nhiệm vì châu Âu), được Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius trình bày vào ngày 22 tháng 4. Gói chiến lược bao gồm một hồ sơ năng lực mới, một kế hoạch tăng trưởng nhân sự, một chiến lược dự bị sửa đổi và một chương trình nghị sự cải cách hành chính gồm 153 biện pháp cụ thể. Nga được xác định là mối đe dọa hàng đầu, và chiến lược này áp dụng hướng tiếp cận "một chiến trường duy nhất" (one theatre approach), xem lãnh thổ NATO, Trung Đông và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là các không gian an ninh có mối liên kết chặt chẽ với nhau.[58]
Tổ chức
sửaLịch sử tổ chức
sửaVới số lượng các sứ mệnh nước ngoài ngày càng tăng, giới chức trách nhận thấy lực lượng Bundeswehr cần có một cơ cấu chỉ huy mới. Một ủy ban cải cách dưới sự chủ trì của cựu Tổng thống Richard von Weizsäcker đã trình bày các kiến nghị của mình vào mùa xuân năm 2000.
Vào tháng 10 năm 2000, Tổng cục Hỗ trợ Lực lượng Hợp thành (Streitkräftebasis) được thành lập nhằm tập trung các chức năng hậu cần và hỗ trợ khác như cảnh sát quân sự, tiếp liệu và thông tin liên lạc về dưới một đầu mối chỉ huy. Vào năm 2025, Tổng cục Hỗ trợ Lực lượng Hợp thành bị giải thể, các bộ chỉ huy và cơ quan trực thuộc được điều chuyển sang Bộ tư lệnh Hỗ trợ Hợp thành. Công tác y tế quân dịch được tái tổ chức với việc thành lập Tổng cục Quân y Hợp thành. Vào năm 2016, Bundeswehr đã thành lập lực lượng trẻ tuổi nhất của mình là Bộ tư lệnh Không gian mạng và Thông tin.
Lãnh đạo cấp cao
sửaBộ trưởng Bộ Quốc phòng được hỗ trợ bởi Tổng tham mưu trưởng Quân đội (CHOD, tiếng Đức: Generalinspekteur) cùng tư lệnh các quân chủng (Inspekteure:Tư lệnh Lục quân, Tư lệnh Không quân, Tư lệnh Hải quân) và các ban tham mưu tương ứng để thực hiện chức năng tổng tư lệnh. Tổng tham mưu trưởng và tư lệnh các quân chủng cấu thành nên Hội đồng Chỉ huy Quân sự (Militärischer Führungsrat) với chức năng tương tự như Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân tại Mỹ. Trực thuộc Tổng tham mưu trưởng là Bộ tư lệnh Hành quân Lực lượng Hợp thành (Einsatzführungskommando). Đối với các sứ mệnh có quy mô nhỏ hơn, một trong các bộ tư lệnh quân chủng (ví dụ: Bộ tư lệnh Hạm đội) có thể trực tiếp thực hiện quyền chỉ huy và điều hành các lực lượng tham gia tác chiến ở nước ngoài.
Bundestag phải thông qua bất kỳ quyết định triển khai quân nước ngoài nào với tỷ lệ đa số phiếu phổ thông. Quy định này từng gây ra một số bất đồng với các đồng minh của Đức về vấn đề điều động quân đội, ví dụ như tại Afghanistan, do sự chấp thuận của nghị viện đối với những vấn đề như vậy tương đối khó đạt được ở Đức.
Lực lượng chiến đấu
sửaCác lực lượng chiến đấu của Lục quân được tổ chức thành ba sư đoàn chiến đấu và tham gia vào các cấu trúc chỉ huy đa quốc gia ở cấp quân đoàn. Không quân duy trì ba sư đoàn và Hải quân được cơ cấu thành hai hạm đội tàu. Bộ tư lệnh Hỗ trợ Hợp thành và Tổng cục Quân y Hợp thành đều được tổ chức thành bốn bộ chỉ huy khu vực có cấu trúc giống hệt nhau. Tất cả các quân binh chủng này cũng có các bộ chỉ huy phụ trách chung về công tác huấn luyện, mua sắm và các vấn đề chung khác.

Bộ tư lệnh Hành quân
sửaBộ tư lệnh Hành quân Lực lượng Hợp thành (Einsatzführungskommando der Bundeswehr) là bộ chỉ huy quân sự hợp thành duy nhất của Bundeswehr. Cơ quan này điều hành tất cả các sứ mệnh ở nước ngoài. Trụ sở bộ tư lệnh đặt tại doanh trại Henning von Tresckow Kaserne (Schwielowsee) gần Potsdam và được đứng đầu bởi một Trung tướng (tướng 3 sao).
Nhiệm vụ
sửa
Vai trò của Bundeswehr được mô tả trong Hiến pháp Đức (Điều 87a) là hoàn toàn chỉ mang tính chất phòng thủ. Vai trò hoạt động tích cực duy nhất của lực lượng này trước năm 1990 là Katastropheneinsatz (ứng phó cứu trợ thiên tai). Trong khuôn khổ này, Bundeswehr hỗ trợ khắc phục hậu quả sau các thảm họa tự nhiên cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Sau năm 1990, tình hình quốc tế chuyển dịch từ thế đối đầu Đông - Tây sang một thời kỳ bất ổn và không định hình nói chung.
Sau phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang vào năm 1994, khái niệm "phòng thủ" đã được định nghĩa lại để không chỉ bao gồm việc bảo vệ biên giới nước Đức, mà còn cả phản ứng với khủng hoảng và ngăn ngừa xung đột, hoặc rộng hơn là bảo vệ anniu của nước Đức ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.[59] Theo định nghĩa do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Peter Struck đưa ra (nhiệm kỳ 2002–2005), việc bảo vệ nước Đức có thể là cần thiết ngay cả tại vùng núi Hindu Kush. Điều này đòi hỏi Bundeswehr phải tham gia vào các chiến dịch bên ngoài biên giới nước Đức, như một thành phần của khối NATO hoặc Liên minh châu Âu và theo ủy thác của Liên Hợp Quốc.[cần dẫn nguồn]
Chi phí quân sự
sửa| 1990 | 1991 | 1992 | 1993 | 1994 | 1995 | 1996 | 1997 | 1998 | 1999 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Ngân sách hàng năm
(tính theo % GDP) |
2.4% | 2.12% | 1.98% | 1.8% | 1.65% | 1.59% | 1.56% | 1.5% | 1.48% | 1.48% |
| 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 | |
| Ngân sách hàng năm
(tính theo % GDP) |
1.44% | 1.41% | 1.41% | 1.4% | 1.35% | 1.33% | 1.27% | 1.24% | 1.28% | 1.39% |
| 2010 | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | |
| Ngân sách hàng năm
(tính theo tỷ €) |
€31,14B | €31,55B | €31,87B | €33,3B | €32,4B | €32,97B | €34,3B | €37B | €38,5B | €43,2B |
| Ngân sách hàng năm
(tính theo % GDP) |
1.35% | 1.28% | 1.31% | 1.22% | 1.16% | 1.16% | 1.18% | 1.21% | 1.23% | 1.33% |
| 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 | 2026 | 2027 | 2028 | 2029 | |
| Ngân sách hàng năm
(tính theo tỷ €) |
€45,65B | €46,9B | €53B | €58,5B
(€8,4B quỹ đặc biệt) |
€71,75B
(€19.8B quỹ đặc biệt) |
€86,31B
(€24,06B quỹ đặc biệt) |
€108,2B
(€25,51B quỹ đặc biệt) |
€133,3B
(€27,5B quỹ đặc biệt) |
€149,9B | €158,9B |
| Ngân sách hàng năm
(tính theo % GDP) |
1.49% | 1.43% | 1.48% | 1.61% | 2% | 2.39% | 2.8% | 3% | — | > 3.5% |
Biểu đồ ngân sách từ năm 2010
sửa
- Ngân sách cơ sở (tính theo Euro)
- Quỹ đặc biệt (tính theo Euro)
Diện mạo
sửaQuân phục
sửa
Về mặt lý thuyết, quân phục thường phục (service uniform) là loại trang phục tiêu chuẩn của lực lượng Bundeswehr dành cho nhiệm vụ chung và các hoạt động ngoài căn cứ,[83] nhưng nó thường gắn liền nhất với các dịp nghi lễ. Quân phục thường phục của lục quân bao gồm một chiếc áo khoác đơn ngực màu xám sáng và quần dài màu xám đậm hơn, mặc cùng với áo sơ mi màu xanh dương nhạt, ca-vạt đen và giày đen.[83] Mũ có lưỡi trai đã được thay thế bằng mũ nồi làm loại mũ đội đầu phổ biến nhất.[83] Các bộ đại lễ phục tích hợp áo khoác jacket dạ tiệc (dinner jacket) hoặc áo khoác hai hàng khuy được các sĩ quan mặc trong các dịp xã giao khác nhau.[83]
Quân phục chiến đấu và làm việc bao gồm quần áo rằn ri ngụy trang Flecktarn, loại trang phục này cũng được mặc khi làm nhiệm vụ dã chiến. Trên thực tế, chúng cũng được sử dụng cho các nhiệm vụ chung và bên ngoài căn cứ, ít nhất là tại các doanh trại nơi diễn ra các hoạt động dã chiến, cũng như trên đường về nhà hoặc đến vị trí đóng quân, và thường được xem là biểu tượng quân phục của Lục quân (Heer).[84] Ở cả ba quân chủng, các bộ quân phục màu cát nhạt luôn sẵn có để phục vụ cho các nhiệm vụ ở những vùng khí hậu ấm áp hơn.[83] Vào năm 2016, một kiểu họa tiết ngụy trang mới mang tên Multitarn đã được ra mắt, tương tự như quân phục MultiCam của Lục quân Anh hoặc Lục quân Hoa Kỳ.[85][86][87]
Một biến thể truyền thống khác của quân phục thường phục được mặc bởi lực lượng lính sơn cước Gebirgsjäger (bộ binh sơn cước), bao gồm áo khoác trượt tuyết, quần co giãn và giày trượt tuyết. Thay vì mũ nồi, họ đội chiếc "mũ sơn cước" màu xám. Quân phục dã chiến của họ cũng tương tự, ngoại trừ biểu tượng hoa nhung tuyết Edelweiss bằng kim loại (tùy chọn) được cài trên mũ dã chiến.

Các màu sắc truyền thống đại diện cho từng binh chủng xuất hiện trên ve áo và dưới dạng đường viền trên cầu vai.[83] Các tướng lĩnh sử dụng đường viền bên trong bằng dây bện vàng; các sĩ quan khác sử dụng đường viền màu bạc.[83] Màu ve áo và đường viền có màu hạt dẻ (maroon) đối với bộ tổng tham mưu, màu xanh lá cây cho bộ binh, màu đỏ cho pháo binh, màu hồng cho lực lượng tăng thiết giáp, màu đen cho lực lượng công binh, màu vàng cho thông tin liên lạc, màu vàng đậm cho lực lượng trinh sát và nhiều màu sắc khác nhau cho các binh chủng còn lại.[83] Lực lượng chiến đấu đội mũ nồi màu xanh lá cây (bộ binh), màu đen (tăng thiết giáp) hoặc màu hạt dẻ (maroon) (lính nhảy dù).[83] Lực lượng hậu cần và lực lượng yểm trợ chiến đấu, chẳng hạn như pháo binh hoặc công binh, đội mũ nồi màu đỏ.[83] Một chiếc huy hiệu màu vàng hoặc bạc gắn trên mũ nồi sẽ biểu thị cho binh chủng phục vụ cụ thể của quân nhân đó.[83]
Lực lượng hải quân mặc bộ quần áo và áo khoác hai hàng khuy màu xanh hải quân truyền thống; hạ sĩ quan và binh sĩ mặc áo sơ mi trắng hoặc áo sơ mi màu xanh hải quân với phần cổ áo hải quân truyền thống.[83] Quân phục màu trắng được sử dụng làm trang phục thay thế cho mùa hè.[83] Mũ đại lễ của sĩ quan được gắn một chiếc neo vàng bao quanh bởi một vòng nguyệt quế.[83] Phần lưỡi trai của mũ đô đốc mang hai hàng họa tiết lá sồi.[83] Các thuyền trưởng U-boat đội chiếc mũ màu trắng truyền thống.
Quân phục thường phục của không quân bao gồm áo khoác và quần dài màu xanh lam đi kèm áo sơ mi màu xanh lam nhạt, ca-vạt xanh đậm và giày đen.[83] Trang phục chiến đấu màu ô-liu tương tự như quân phục dã chiến của lục quân được mặc trong quá trình huấn luyện cơ bản và trong các nhiệm vụ dã chiến khác.[83] Nhân sự phi hành đoàn đeo biểu tượng cánh bay (wings) trên ngực phải.[83] Các nhân sự khác của không quân đeo một phù hiệu hình cánh chim được sửa đổi với một biểu tượng ở tâm biểu thị cho chuyên môn phục vụ của họ.[83] Các huy hiệu chuyên môn (Tätigkeitsabzeichen) này có các màu đồng, bạc hoặc vàng, tùy thuộc vào thời gian phục vụ của quân nhân trong lĩnh vực chuyên môn đó.[83] Biểu tượng cánh chim xếp chồng lên một vòng nguyệt quế với màu vàng, bạc hoặc đồng (tùy thuộc vào cấp bậc) cũng được cài trên mũ thường phục hoặc mũ dã chiến.[83]
- Quân phục thường phục của Lục quân Đức (Heer)
- Quân phục thường phục của Không quân Đức (Luftwaffe)
Hệ thống quân hàm
sửaư Nhìn chung, các cấp bậc sĩ quan tương đương với các cấp bậc được sử dụng trong quân đội Phổ và quân đội Đức trước năm 1945. Phù hiệu cấp bậc sĩ quan được đeo trên cầu vai hoặc bảng vai.[83] Phù hiệu của các sĩ quan cấp úy thuộc lục quân (Heer) và không quân (Luftwaffe) là các ngôi sao bạc bốn cánh, trong khi các sĩ quan cấp tá đeo các ngôi sao màu bạc (màu đen hoặc trắng trên quân phục dã chiến rằn ri) và một vòng nguyệt quế lá sồi bao quanh ngôi sao thấp nhất. Các ngôi sao và vòng nguyệt quế này có màu vàng đối với các sĩ quan cấp tướng. Đối với các sĩ quan hải quân (Marine), cấp bậc được biểu thị bằng các vạch vàng ở cổ tay áo của áo khoác thường phục màu xanh và trên bảng vai của bộ quân phục màu trắng.[83]
Các cấp bậc quân nhân chuyên nghiệp và hạ sĩ quan (NCO) cũng tương tự như trong quân đội Phổ và quân đội Đức trước năm 1945. Trong lục quân và không quân, cấp bậc Gefreiter tương đương với cấp bậc OR-2 của NATO; các cấp bậc Obergefreiter cũng như Hauptgefreiter tương đương với OR-3, trong khi OR-4 đại diện cho Stabsgefreiter và Oberstabsgefreiter. Cấp bậc Unteroffizier là hạ sĩ quan thấp nhất (OR-5), tiếp theo là Stabsunteroffizier (cũng thuộc OR-5), Feldwebel và Oberfeldwebel (OR-6), Hauptfeldwebel (OR-7/8), Stabsfeldwebel (OR-8) và Oberstabsfeldwebel (OR-9). Cấp bậc của binh sĩ và hạ sĩ quan lục quân và không quân được biểu thị bằng các vạch thẳng, vạch chữ V (chevrons) và họa tiết "nút thắt kiếm" đeo trên các thanh trượt quân hàm.[83]
Các ký hiệu cấp bậc của binh sĩ hải quân được đeo ở phần tay áo trên (đối với nhóm OR 1–5) hoặc tay áo dưới (đối với nhóm OR-6 trở lên) cùng với một biểu tượng hình mỏ neo đại diện cho chuyên môn phục vụ.[83] Các học viên sĩ quan lục quân và không quân nắm giữ các cấp bậc riêng biệt bao gồm Fahnenjunker (OR-5), Fähnrich (OR-6) và Oberfähnrich (OR-7/8), và đeo phù hiệu cấp bậc tương ứng đi kèm một sợi dây bện màu bạc quấn xung quanh. Các học viên sĩ quan hải quân mang cấp bậc Seekadett (học viên sĩ quan hàng hải; tương đương OR-5) và Fähnrich zur See (chuẩn úy hải quân hạng hai; OR-6) đeo phù hiệu cấp bậc của các cấp bậc binh sĩ tương ứng nhưng có một ngôi sao vàng thay vì biểu tượng chuyên môn, trong khi cấp bậc Oberfähnrich zur See (chuẩn úy hải quân hạng nhất; OR-7/8) sẽ mang một vạch quân hàm mỏng kiểu sĩ quan.
Nhân sự quân y của cả ba quân chủng đều mang một phiên bản của biểu tượng gậy gắp rắn truyền thống (caduceus) trên cầu vai hoặc tay áo của họ.[83] Các cấp bậc sĩ quan ngành y sở hữu các tên gọi riêng biệt khác với các sĩ quan chỉ huy thông thường, tuy nhiên phù hiệu cấp bậc về cơ bản là giống nhau.
Phụ nữ trong quân đội
sửaPhụ nữ đã phục vụ trong ngành quân y kể từ năm 1975. Từ năm 1993, họ cũng được phép phục vụ với tư cách là binh sĩ và hạ sĩ quan trong ngành quân y và các ban nhạc quân đội. Vào năm 2000, từ một vụ kiện do cô Tanja Kreil khởi xướng, Tòa án Công lý Châu Âu đã ra phán quyết cho phép phụ nữ được phục vụ trong nhiều vai trò hơn so với quy định trước đó. Kể từ năm 2001, họ có thể phục vụ ở tất cả các vị trí công tác mà không gặp bất kỳ hạn chế nào, nhưng họ không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Hiện tại có khoảng 25.417 phụ nữ đang phục vụ tại ngũ[4] cùng với một số lượng nữ quân nhân dự bị tham gia vào tất cả các nhiệm vụ, bao gồm cả các sứ mệnh gìn giữ hòa bình và các chiến dịch khác. Vào năm 1994, bà Verena von Weymarn đã trở thành Generalarzt der Luftwaffe (Cục trưởng Cục Quân y Không quân), người phụ nữ đầu tiên đạt đến cấp bậc tướng trong lịch sử lực lượng vũ trang Đức.
Đối với phụ nữ, các yêu cầu về thể lực trong bài kiểm tra thể chất cơ bản (vốn phải hoàn thành tại thời điểm tuyển dụng và sau đó là hàng năm) được đặt ở mức thấp hơn so với nam giới.[88]
Tuyển dụng
sửaCùng với việc đình chỉ chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc vào năm 2011 và định hướng lại chiến lược của Bundeswehr, các văn phòng tuyển quân cấp quân khu đã bị giải thể kể từ ngày 30 tháng 11 năm 2012. Nhiệm vụ của các cơ quan này được chuyển giao cho các trung tâm hướng nghiệp mới thành lập của Bundeswehr. Các trung tâm hướng nghiệp của Bundeswehr là kênh chính để lực lượng vũ trang thể hiện vai trò là nhà tuyển dụng trên phạm vi toàn quốc cho cả các vị trí nghề nghiệp quân sự lẫn dân sự.[89]
Trong cơ cấu tổ chức tuyển dụng nhân sự của Bundeswehr được thông qua vào năm 2019, có năm trung tâm hướng nghiệp lớn tích hợp các trung tâm đánh giá năng lực đặt tại Hanover, Mainz, Düsseldorf, Munich và Berlin. Ngoài ra còn có 16 trung tâm hướng nghiệp khu vực với quy mô nhỏ hơn, trong đó chỉ có các trung tâm tại Wilhelmshaven, Stuttgart và Erfurt là có tích hợp trung tâm đánh giá năng lực. 110 văn phòng tư vấn hướng nghiệp thuộc các trung tâm hướng nghiệp này được kết hợp với 86 đội phụ trách địa bàn của dịch vụ phát triển nghề nghiệp để cấu thành nên 113 văn phòng tư vấn.[90]
Bundeswehr cung cấp nhiều lộ trình phát triển nghề nghiệp:
- Nghĩa vụ quân sự tự nguyện (FWD) tại Đức là một loại hình quan hệ lao động dành cho quân nhân trong nhóm cấp bậc thấp của lực lượng Bundeswehr. Thời gian phục vụ kéo dài tối thiểu 7 tháng và tối đa 23 tháng. Địa vị pháp lý của nhóm này tương đương với binh sĩ nghĩa vụ bắt buộc.[91]
- Quân nhân phục vụ có thời hạn (viết tắt là SaZ, thường gọi là Zeitsoldat) là quân nhân tình nguyện cam kết phục vụ trong quân đội một thời gian hạn định. Một quân nhân SaZ có thể thuộc cả ba nhóm đối tượng (binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan). Những quân nhân SaZ được tuyển dụng làm hạ sĩ quan và sĩ quan sẽ trải qua khóa đào tạo quân sự chung, đào tạo thăng tiến chuyên môn và huấn luyện chuyên ngành. Thời hạn cam kết thông thường tối thiểu là 2 năm và tối đa là 25 năm, nhưng không được kéo dài quá độ tuổi 62.[92][93]
- Quân nhân chuyên nghiệp trọn đời (Berufssoldat) được tuyển chọn từ chính nhóm quân nhân phục vụ có thời hạn. Khác với nhóm quân nhân có thời hạn, quân nhân chuyên nghiệp trọn đời không có thời hạn cam kết theo hợp đồng mà phục vụ liên tục cho đến khi nghỉ hưu. Độ tuổi nghỉ hưu sẽ thay đổi tùy theo cấp bậc. Một quân nhân chuyên nghiệp trọn đời hoàn toàn có thể xin xuất ngũ sớm hoặc chuyển trở lại chế độ phục vụ có thời hạn.
- Lộ trình phát triển trong lực lượng Dự bị: Có nhiều lộ trình phát triển nghề nghiệp trong lực lượng dự bị của quân đội dành cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, cũng như dành cho những thường dân chưa từng trải qua khóa huấn luyện quân sự trước đó.[94]
Chú thích
sửa- ↑ "'Wir. Dienen. Deutschland.' Das Selbstverständnis der Bundeswehr". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
- ↑ "Art 65a Basic Law". Gesetze-im-internet.de. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011.
- ↑ "Art 115b Basic Law". Gesetze-im-internet.de. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011.
- 1 2 3 4 "Aktuelle Personalzahlen der Bundeswehr [Current personnel numbers of the Federal Defence]" (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 "Reserve der Bundeswehr". Bundeswehr.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 "Deutschland investiert in Verteidigung und stärkt das Bündnis" (bằng tiếng Đức). bmvg.de. ngày 26 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 "The Secretary General's Annual Report" (PDF) (bằng tiếng Anh). NATO. ngày 26 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 "TIV of arms imports/exports data for India, 2014–2022". Stockholm International Peace Research Institute. ngày 26 tháng 1 năm 2024.
- ↑ Xiao Liang; Nan Tian; Diego Lopes da Silva; Lorenzo Scarazzato; Zubaita Karim; Guiberteau Ricard. "Trends in World Military Expenditure 2024" (PDF). SIPRI. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Ratz, Alexander (ngày 14 tháng 2 năm 2024). "Germany hits 2% NATO spending target for first time since end of Cold War". Reuters. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Europe's Defense Under NATO's Five‑Percent Doctrine: Scenarios & Execution Risks". Großwald (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 "Steigende Bewerberzahlen bei der Bundeswehr". ZDF. ngày 17 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 "Germany commits €100 billion to defense spending". Deutsche Welle. ngày 27 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Reimer, Sören Christian. "Haushaltsausschuss beschließt Änderungen des Grundgesetzes". Deutscher Bundestag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Ardennen-Offensive: Verzögerung des Untergangs". zms.bundeswehr.de (bằng tiếng Đức). ngày 20 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Traditionen der Bundeswehr" (bằng tiếng Đức). Bundesministerium der Verteidigung. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008.
- ↑ Erler, Fritz (1962). "Politik und nicht Prestige". Sicherheit und Rüstung. Cologne: Verlag Wissenschaft und Politik. tr. 82–83 – qua Lider, Julian (1986). Origins and Development of West German Military Thought, Vol. I, 1949–1966. Aldershot/Brookfield VT: Gower Publishing Company Ltd. p. 125. ISBN 978-0-566-00839-9.
- ↑ Abenheim, Donald (1990). "The Citizen in Uniform: Reform and its Critics in the Bundeswehr". Trong Szabo, Stephen F. (biên tập). The Bundeswehr and Western Security (bằng tiếng Anh). New York: St. Martin's Press. tr. 39. ISBN 978-0-312-04145-8.
- ↑ Bogowicz, Artur A. (tháng 3 năm 2000). Polish Armed Forces of 2000: Demands and Changes (Master's Thesis) (bằng tiếng Anh). Monterey, CA: Naval Postgraduate School (NPGS). Citing works by Donald Abenheim: The Citizen in Uniform (1990), p. 37 and German Soldiers and German Unity (1991), p. 14; combined with the obituary for General Ulrich de Maizière in The Times, 13 September 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014.
- ↑ Large, David Clay (1996). Germans to the Front: West German Rearmament in the Adenauer Era (bằng tiếng Anh). University of North Carolina Press. tr. 244–245. ISBN 0-8078-4539-6.
- ↑ Gaddis, John Lewis (2005). The Cold War: A New History (bằng tiếng Anh). London: Penguin Books. tr. 220.
- ↑ Large op.cit. pp. 263–64
- ↑ "Deutschland sagt Verkleinerung der Armee auf 370.000 Mann zu" [Germany pledges reduction of the army to 370,000 men]. Federal Government of Germany (bằng tiếng Đức). ngày 30 tháng 8 năm 1990. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Duffield, John (1998). World Power Forsaken: Political Culture, International Institutions, and German Security Policy After Unification (bằng tiếng Anh). Stanford University Press. tr. 32. ISBN 978-0804733656.
- 1 2 "Ausblick: Die Bundeswehr der Zukunft" (bằng tiếng Đức). Bundesministerium der Vereniging. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.
- ↑ Shanker, Thom (ngày 10 tháng 6 năm 2011). "Defense Secretary Warns NATO of 'Dim' Future". New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.
- ↑ Schmitz, Gregor Peter (ngày 18 tháng 5 năm 2012). "US Think Tank Slams Germany's NATO Role". Der Spiegel. Spiegel Online. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.
- ↑ Juuko Alozious (2022). "NATO's Two Percent Guideline: A Demand for Military Expenditure Perspective". Defence and Peace Economics. 33 (4): 475–88. doi:10.1080/10242694.2021.1940649. S2CID 237888569.
- ↑ Braw, Elisabeth (ngày 19 tháng 1 năm 2016). "Inside Germany's Higher Defense Spending – Foreign Affairs". Foreign Affairs. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016.
- ↑ "Germany′s von der Leyen admits major Bundeswehr shortfalls". Deutsche Welle. ngày 27 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2014.
- ↑ "Ramshackle Army at Odds with Berlin's Global Aspirations – Spiegel Online". Spiegel.de. ngày 30 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Huggler, Justin (ngày 2 tháng 6 năm 2014). "German army to offer soldiers crèches and flat-screen TVs". The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Huggler, Justin (ngày 12 tháng 9 năm 2014). "After army crèches and cosy barracks, Germany has new idea for troops – shorter working hours". The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Germany to boost mid-term defense spending". Reuters. ngày 17 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- 1 2 Madeline Chambers (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "More assertive Germany considers bigger army as Syria vote looms". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Pape, Alex. "Germany, Italy may increase submarine fleets". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Germany's Army To Procure 131 New Boxer Armored Personnel carriers". Defense News. ngày 17 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Germany plans to develop new fighter jet to replace Tornado". Channel NewsAsia. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "German military to bring back mothballed tanks". DW.COM. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
- ↑ Smale, Alison (ngày 5 tháng 6 năm 2016). "In a Reversal, Germany's Military Growth Is Met With Western Relief". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Tomkiw, Lydia (ngày 10 tháng 5 năm 2016). "Germany Announces First Military Expansion Since Cold War Amid Cyber Threats, US Pressure". International Business Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Germany to Expand Bundeswehr to Almost 200,000 Troops". Deutsche Welle. ngày 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- 1 2 "Germany Formalizes Permanent Armored Brigade in Lithuania: 45th 'Brigade Litauen' to Absorb eFP Force, Reach 2,000 Troops by 2026". Großwald | Structured Intelligence on European Defense (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Fiorenza, Nicholas. "Dutch mechanized brigade to be integrated into German panzer division". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2016.
- 1 2 Mehta, Aaron; Hoffmann, Lars (ngày 4 tháng 2 năm 2016). "German Armed Forces To Integrate Sea Battalion Into Dutch Navy". Defensenews.com. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Bundesregierung – Europa – NATO: Investing more in security". bundesregierung.de. ngày 16 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "Germany proposes allowing foreigners to join its army". ngày 14 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2017.
- ↑ "Germany, Romania and the Czech Republic deepen defence ties". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017.
- ↑ "Czechia's 4th Rapid Deployment Brigade inside Germany's 10th Armoured Division". Großwald | Structured Intelligence on European Defense (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Tian, Nan; Fleurant, Aude; Kuimova, Alexandra; Wezeman, Pieter D.; Wezeman, Siemon T. (ngày 24 tháng 4 năm 2023). "Trends in World Military Expenditure, 2022" (PDF). Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Helferich, John (ngày 1 tháng 4 năm 2023). "The (false) promise of Germany's Zeitenwende". European View (bằng tiếng Anh). 22 (1): 85–95. doi:10.1177/17816858231157556. ISSN 1781-6858.
- ↑ Helferich, John (2024). "Trapped in the grey zone: NATO-CSDP relations in a new era of European security governance". International Politics (bằng tiếng Anh). 62 (5): 1070–1083. doi:10.1057/s41311-024-00647-9. ISSN 1740-3898.
- ↑ Heimbach, Tobias (ngày 10 tháng 10 năm 2022). "Munition für maximal zwei Tage Krieg: Bundeswehr must ihre Arsenale auffüllen – doch bislang bestellt sie nur wenig". Business Insider (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
- ↑ Szymanski, Mike (ngày 13 tháng 12 năm 2022). "Bericht offenbart eklatante Schwächen der Bundeswehr". Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "German government intensifies its investment drive: 2026 federal budget and fiscal plan to 2029 adopted". Federal Ministry of Finance (Germany) (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Industrial Deterrence: Germany's €377 B Experiment in Defence Governance". Großwald – European Defence Intelligence (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Was sehen die Pläne für den Wehrdienst vor?" [What do the plans for military service provide for?]. Tagesschau (bằng tiếng Đức). ngày 13 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Höller, Linus (ngày 22 tháng 4 năm 2026). "Germany unveils strategy for becoming Europe's strongest military by 2039". Defense News. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "RSS-Feed (Bundeswehr und Bundesministerium der Verteidigung)". BMVg.de (bằng tiếng Đức). ngày 14 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 "NATO Defence expenditure 1949–2017".
- ↑ "Page 9 - Defence Expenditure of NATO Countries (2008 - 2015)" (pdf). nato.int (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 "Defence Expenditure of NATO Countries (2009–2016)" (pdf). nato.int. ngày 13 tháng 3 năm 2017. tr. 9. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Deutscher Bundestag: Viel Geld für die Bundeswehr". webarchiv.bundestag.de. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Hausding, Götz. "Deutscher Bundestag –Verteidigungsetat verzeichnet leichten Zuwachs". Deutscher Bundestag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Deutscher Bundestag - Wehretat 2012 stößt trên ein geteiltes Echo". Deutscher Bundestag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 Weinlein, Alexander. "Deutscher Bundestag – Von der Leyen muss 400 Millionen Euro einsparen". Deutscher Bundestag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Rund 1,4 Milliarden Euro mehr für den Verteidigungsetat – bundeswehr-journal" (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Haushalt: Wehretat um 10,2 Milliarden Euro aufgestockt – bundeswehr-journal" (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Steigende Verteidigungsausgaben". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Deutlich mehr Geld für Verteidigung". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Verteidigungshaushalt 2019". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Volle Ausgabe des Verteidigungshaushalts 2020 und umfangreiche Investitionen". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Verteidigungshaushalt 2021". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Verteidigungshaushalt". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "The war in Ukraine: consequences for the Bundeswehr and Germany's policy in NATO". OSW Centre for Eastern Studies (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Haushaltsausschuss beschließt Verteidigungsetat und Plan zum Sondervermögen 2023". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Verteidigungshaushalt". www.bmvg.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Schulden für die Sicherheit Deutschlands". www.das-parlament.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2025.
- ↑ SCR. "Etat 2026: Änderungen im Verteidigungshaushalt beschlossen". Deutscher Bundestag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 3 "Bundesregierung beschließt Eckwerte für den Bundeshaushalt 2027 und die Finanzplanung bis 2030 - Bundesfinanzministerium - Presse". Bundesministerium der Finanzen (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Bundesregierung führt Investitionsoffensive fort: Bundeshaushalt 2026 und Finanzplan bis 2029 beschlossen – Bundesfinanzministerium – Presse". Bundesministerium der Finanzen (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 "Germany's new budget plans see defence spending boost, energy cost cuts". Clean Energy Wire (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26
Bài này có sử dụng tư liệu từ các nguồn có bản quyền thuộc về công chúng. Jean R. Tartte. Germany: A Country Study. Federal Research Division. Uniforms, Ranks, and Insignia. - ↑ Một câu chuyện đùa của binh sĩ về tình huống này như sau: "Quân phục thường phục (Dienstanzug) được gọi là thường phục vì nó không được mặc khi làm nhiệm vụ thực tế, trong khi quân phục dã chiến (Feldanzug) được gọi là dã chiến vì nó không được mặc ngoài thực địa." (Ngoài thực địa, họ mặc quân phục chiến đấu ("Gefechtsanzug"), một phiên bản mở rộng của quân phục dã chiến.)
- ↑ "Bei jedem Wetter, zu jeder Zeit: Neue Tarnung für die Truppe" [In any weather, at any time: New camouflage for the troop]. bundeswehr.de (bằng tiếng Đức). Erding, Bavaria. ngày 9 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Borgans, Christoph (ngày 23 tháng 4 năm 2016). "Neue Bundeswehr Multi-Tarnuniform soll unsichtbar machen". Faz.net. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Die Bundeswehr tarnt sich: Deutsche Soldaten bekommen neue Uniform". Wiwo.de (bằng tiếng Đức). ngày 26 tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Zentralanweisung B1-224/0-2" (PDF) (bằng tiếng Đức). Bundesministerium der Verteidigung. tr. 24. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Karrierecenter der Bundeswehr". Bundeswehr.de (bằng tiếng Đức).
- ↑ "Deutscher Bundestag Drucksache 19/7200" (PDF). Dip21.bundestag.de. ngày 29 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "§ 58b SG – Einzelnorm". Gesetze-im-internet.de.
- ↑ "§ 1 SG – Einzelnorm". Gesetze-im-internet.de.
- ↑ "§ 40 SG – Einzelnorm". Gesetze-im-internet.de.
- ↑ "Beförderung, Zulassung zu einer Laufbahn der Reserve und Berufung in das Dienstverhältnis einer Berufssoldatin oder eines Berufssoldaten". www.gesetze-im-internet.de. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.